Báo Tiền Phong số 73-74

Trong cái tĩnh mịch đến rợn người của bóng đêm trên quê cũ, tôi chợt nhận ra mình đang đứng giữa một khoảng trống mênh mông của sự muộn màng. Gió thổi qua kẽ lá tre nghe như tiếng thở dài từ lòng đất mẹ, hay đó chính là tiếng nấc nghẹn của một đứa con đã đi quá xa, để rồi ngày trở về chỉ còn lại một nắm đất lạnh trước mặt mình và những tàn tro của ký ức. Tôi thắp một nén nhang, nhìn làn khói bay vẩn vơ như sợi dây tơ mong manh nối giữa hai bờ sinh tử. Má ơi...! * * * Ngày tôi đi, Má đứng ở đầu ngõ, cánh tay gầy giơ cao vẫy theo buồn bã như cánh chim lạc bão. Má dặn tôi nhớ đánh dây thép về ngay khi đến được bờ bến nào đó an toàn, và dù ở đâu cũng nhớ niệm Nam Mô A Di Đà Phật để được bình yên và để có ngày Phật dắt tay về quê. Chia tay tôi, Má gói ghém cho tôi vài bộ đồ tốt nhất của Ba tôi mà má đã để dành và chai dầu gió xanh Con Ó để phòng khi trái gió trở trời. Chia tay tôi, Má khóc nhiều còn tôi thì không, vì tâm trạng tôi vướng víu những lo âu, đôi phần sợ hãi vì sự bất định của chuyến đi không biết may rủi thế nào. “Má ráng đợi, rồi con sẽ có ngày quay trở lại”. Ôi, cái câu nói “ráng đợi” của tôi là bao nhiêu năm trời của Má? Câu “đợi con về” của tôi là bao nhiêu mùa gió chướng lùa qua những tấm liếp tre hở trong ngôi nhà cũ, bao nhiêu đêm Má trăn trở một mình bên ngọn đèn dầu hắt bóng. Tôi đã tính toán với cuộc đời mình nhưng lại quên tính toán thời gian của mẹ. Tôi quên rằng mẹ không phải là thân cây vĩnh cửu, mẹ là ngọn đèn dầu lạc, càng soi sáng cho đời con thì tim đèn càng mòn, và dầu sẽ cạn. Tôi giận chính mình. Giận cái sự thành đạt muộn màng hôm nay đã không thể đổi lấy một ngày mà Má được nằm võng thảnh thơi nghe gió mùa Hè thổi vời sau bụi chuối bờ tre, không phải lo bữa đói bữa no, và đủ đầy con cháu ở cạnh bên. *** Chiếc cối đá giã gạo trong góc nhà vẫn còn đó, lặng im, như mẹ với bóng dáng lặng thầm và nhẫn nại. Đứng giữa căn nhà, tôi muốn quỳ xuống mà ôm lấy cái cối đá kia, rồi nằm dài trên thềm gạch tàu mát lạnh. Tôi muốn gào lên: “Con về đây, Má ơi!". Ngoài sân chỉ có tiếng dế mèn kêu rối. Mọi sự thành công của tôi ở xứ người giờ đây trở nên vô nghĩa trước sự thật nghiệt ngã. Má đã ra đi trước khi tôi kịp nắm tay người. Má đã dành cả đời mình để vẹn toàn bổn phận “nàng dâu trưởng”, đã làm “người phục vụ không lương” cho toàn thể gia đình. Chắt chiu từng đồng bạc để dành cho con cái, người thân, quên cả chăm lo cho riêng mình. Bữa ăn có cơm cháy thì má dành ăn, để dành cơm trắng cho người nhà. Tôi có thể mua được cả ngàn lọ dầu xanh Con Ó ngoại, nhưng chẳng còn Má để tôi xoa chân bóp tay cho má, khi má than nhức mỏi lúc đêm về. Tôi có thể mang về cả va-li quà bánh, những hộp pate hảo hạng, cả những phong sô cô la ngon nhất và ngọt nhất, chỉ để dành riêng cho Má, nhưng người ăn tóp mỡ rang khô để nhường cho tôi những miếng cá trê chiên xù vàng rộm ngày xưa thì đã nằm sâu dưới lớp cỏ xanh rì. Tôi có là anh Việt kiều sang trọng trong mắt xóm giềng, thì trong gương soi, tôi chỉ là một đứa trẻ đã mồ côi mẹ, một kẻ lang thang đến từ cõi lạ, “chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà”. * * * Sương sớm vương trên những ngọn cỏ dại, tôi đứng đó, rệu rã và tan nát trước nấm mồ còn thơm mùi đất mới. Lòng tôi lạnh buốt tận tâm can. Tôi quỳ xuống dưới những làn hương khói, hai đầu gối chạm vào lớp đất mòn rêu ẩm mục, hai tay tôi chắp lại, lưng tôi cong, đầu tôi cúi. Nhưng nào đâu có nghĩa lý gì. Đáng lẽ ra, đôi bàn tay này của tôi phải nâng niu đôi bàn tay đã chai sần vì năm tháng nhọc nhằn của Má. Nhưng không, giờ đây trong tay tôi là những cây hương buốt lạnh và một làn khói xám, tay tôi không thể bới sâu vào lòng đất, để chạm tới một xác thân trìu mến vô bờ. Má ơi... con về muộn quá phải không Má? “Về là tốt rồi con, đừng buồn nữa”. Câu nói ấy không làm tôi nguôi ngoai, mà càng khiến lòng tôi quặn thắt. Bởi tôi biết, dù tôi có khóc cạn dòng, dù tôi có xây lăng mộ này bằng đá ngọc dát thếp vàng, thì người đàn bà cam chịu, vị tha và bao dung nhất mà tôi biết cũng chẳng bao giờ quay lại để nói với tôi một câu: “Ngủ nhớ tấn mùng cho kỹ, để không bị muỗi cắn nghe con". * * * Trước ngày quay về, tôi tìm lại bức thư mà Má gởi cho tôi hơn 30 năm trước, một mảnh giấy đã rách sờn nếp gấp. Đó là lá thư cuối cùng qua đường bưu điện. Giữa thế giới của email và những cuộc gọi vượt đại dương chớp nhoáng tính bằng phút, mảnh giấy này là kỷ vật duy nhất còn sót lại, nối tâm hồn tôi với nụ cười dịu dàng của Má. Tôi mang theo lá thư đã sờn rách, bước chậm rãi ra phía nghĩa trang khi nắng chiều vừa rụng xuống trên những ngọn tràm. Gió từ đồng xa thổi mạnh, cái lạnh của gió hoàng hôn miền Tây Nam bộ không buốt giá như ở Canada những ngày tuyết trắng, nhưng rờn rợn tâm can. Tôi nhận ra một sự thật nghiệt ngã: Khi cha mẹ còn sống, ta nhìn về phía trước để chạy theo danh vọng; khi cha mẹ mất rồi, ta chỉ còn biết nhìn lại bản thân để hối tiếc quá khứ. Tôi đã dùng sự bận rộn làm tấm khiên che chắn ít nhiều sự vô tâm. Bây giờ tôi nghĩ, lẽ ra tôi đã phải về bên Má từ lâu, thật nhiều lần. Trước mộ, tôi lặng lẽ đốt nhang. Khói hương nghi ngút bao trùm không gian, tạo thành một làn sương ngăn cách hai thế giới. Tôi ngồi xuống cỏ, mở lại lá thư ra. Tôi nhìn vào những dòng chữ ấy. Chữ của Má không nằm trên một đường thẳng, nó trồi sụt, nghiêng ngả như cách tôi nhớ lại những bước chân của Má đi trên con đường làng trơn trượt vì đất sét những ngày xưa. Má chỉ học đến hết lớp năm, đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm liềm, cầm cuốc và đẩy xay cối đá nặng nề, giờ phải gồng mình cầm cây bút bi để hỏi thăm con. Từng nét chữ run rẩy, có những chỗ mực thấm nhòe vì thời gian: “Hai con... Má viết mấy chữ thăm con. Ở bên đó con có khỏe không? Có cơm ăn áo mặc đầy đủ không con? Má nghe nói bên đó tuyết lạnh dữ lắm, con nhớ mua thêm cái áo len dày, đừng có đi ra ngoài đêm khuya kẻo trúng gió nghe con. Má ở nhà vẫn khỏe, con đừng có lo. Má mới trồng thêm mấy liếp khoai lang, chờ ngày con về má đào lên nấu cho con ăn, món con luôn yêu thích. Con đi làm vừa thôi, đừng ham tiền quá mà bỏ bê sức khỏe. Có khổ quá thì về với Má, nhà mình còn gạo, còn rau, Má nuôi con được mà. Má nhớ con nhiều lắm, đêm nào má cũng thắp nhang cầu trời Phật cho con bình an. Thôi Má dừng bút, chữ Má xấu con ráng đọc nha con...". Má tôi không biết dùng những chữ nghĩa mỹ miều, không biết triết lý nhân sinh vời vợi cao siêu. Triết lý của Má gói gọn trong cái bụng no và cái rốn ấm của cha con và cháu chắt. Lá thư đơn giản đến mức đau lòng. Má nói “Má ở nhà vẫn khỏe”, một lời nói dối vĩ đại của tất cả những người mẹ trên thế gian này để con cái yên lòng nơi đất khách. Má khỏe sao được khi phải gánh vác cả đại gia đình. Khi vật chất cũng chẳng dư dả gì nhiều trong một đại gia đình, cô chú cậu dì, có lắm miệng ăn. Tôi hận cái sự thờ ơ thành nếp của mình. Ngày nhận thư, tôi chỉ đọc lướt qua, thấy thương Má rồi lại lao vào vòng xoáy mưu sinh, tự hứa với lòng “tháng sau sẽ gọi về lâu hơn một chút”. Nhưng cái “tháng sau” ấy đã bị quên đi bởi những hóa đơn, những cuộc họp, và cả sự lười biếng vì mệt nhoài sau những ngày dài công việc riêng tư. Tôi nhìn cái dấu bưu điện đã mờ. Để gửi được lá thư này, Má 14-15/3/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC TIM NGUYỄN (từ London, Ontario, Canada) MINH HỌA: HUỲNH TY Bao nhiêu năm trời của

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==