Báo Tiền Phong số 70

MỎ VÀNG CHỜ ĐƯỢC KHAI THÁC BÀI BẢN Theo thống kê của các địa phương, mùa lễ hội đầu năm luôn là giai đoạn cao điểm của du lịch tâm linh. Tại Chùa Hương, Giám đốc BQL Khu di tích và danh thắng Hương Sơn Bùi Văn Triều cho biết, từ Mùng 1 Tết đến rằm tháng Giêng năm 2026, khu di tích đã đón 286.575 lượt khách, tăng 119% so với cùng kỳ năm trước. Ở phía Bắc, Yên Tử tiếp tục là điểm hành hương lớn của Phật tử và du khách. Mỗi mùa hội, hàng trăm nghìn người leo núi hoặc đi cáp treo để lên chùa Đồng, trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm. Ở Ninh Bình, Sở Du lịch cho biết tháng 2/2026 tỉnh đón khoảng 4,075 triệu lượt khách, phần lớn tập trung ở các điểm gắn với yếu tố tâm linh như chùa Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động hay các ngôi chùa trong quần thể danh thắng Tràng An. Riêng Khu du lịch Tam Chúc trong 10 ngày đầu năm đã đón khoảng 150.000 lượt khách hành hương, nhiều ngày cao điểm đạt 20.000-30.000 lượt khách. Ở vùng Tây Bắc, cụm đền tâm linh của Lào Cai như Đền Bảo Hà, Đền Thượng hay Đền Mẫu cũng thu hút hàng trăm nghìn lượt khách mỗi mùa lễ hội, riêng đền Bảo Hà từng ghi nhận hơn 120.000 lượt khách dịp đầu năm. Theo xu hướng này, du lịch tâm linh đã trở thành một dòng sản phẩm rõ ràng, được doanh nghiệp lữ hành và địa phương đưa vào chiến lược phát triển. Thị trường này không chỉ nở rộ ở Việt Nam mà phát triển trên phạm vi toàn cầu. Báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới cho biết, mỗi năm trên thế giới có khoảng 330 triệu người đi du lịch vì mục đích tôn giáo hoặc hành hương, trong đó thị trường tập trung chủ yếu ở các nước châu Á như Bhutan, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản… Theo Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy, Việt Nam có hệ thống di tích và cơ sở tín ngưỡng dày đặc. Theo thống kê của cơ quan quản lý văn hóa, cả nước hiện có hơn 41.000 di tích và gần 9.000 lễ hội, phần lớn gắn với tín ngưỡng dân gian hoặc tôn giáo. Đây là nguồn tài nguyên lớn cho phát triển du lịch văn hóa và du lịch tâm linh. Chuyên gia kinh tế du lịch TS. Trần Văn Mạnh cho rằng, với hệ thống di tích, tín ngưỡng phong phú và lịch sử lâu đời, Việt Nam hoàn toàn có điều kiện trở thành điểm đến quan trọng của du lịch tâm linh trong khu vực. Nếu được tổ chức hợp lý, các điểm hành hương có thể trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng. KHÁCH ĐÔNG NHƯNG VẪN THIẾU SẢN PHẨM Dù có tiềm năng lớn, du lịch tâm linh Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Một trong những vấn đề lớn, theo TS. Trần Văn Mạnh là tính mùa vụ. Hầu hết du khách tập trung vào dịp đầu năm âm lịch hoặc thời điểm diễn ra lễ hội. Các tháng còn lại trong năm, nhiều khu di tích trở nên vắng vẻ. Tại một số điểm như đền Sóc ở Sóc Sơn (Hà Nội), lượng khách có thể lên tới hàng chục nghìn người trong mùa lễ hội nhưng những tháng khác trong năm chỉ lác đác. PGS.TS Phạm Hồng Long, Trưởng khoa Du lịch Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, nguyên nhân chính nằm ở việc các địa phương chưa xây dựng được sản phẩm du lịch tâm linh có chiều sâu. Nhiều tour hiện nay chủ yếu xoay quanh hoạt động lễ bái, cầu may nên khó kéo dài thời gian lưu trú của du khách, đặc biệt là khách quốc tế. Một vấn đề khác là sự trùng lặp sản phẩm giữa các địa phương. Các tour thường có cấu trúc giống nhau: đi lễ chùa, dâng hương, tham quan cảnh quan. Sự thiếu đa dạng khiến du lịch tâm linh khó trở thành sản phẩm hấp dẫn quanh năm. Nhìn ra một số quốc gia đã phát triển du lịch tâm linh từ lâu đã mở rộng theo hướng trải nghiệm dài ngày. Tại Nhật Bản, tuyến hành hương Kumano Kodo, Di sản thế giới được UNESCO công nhận, được xây dựng như một hành trình văn hóa kết hợp đi bộ xuyên rừng, nghỉ tại các làng cổ, trải nghiệm thiền và nghi lễ tại các đền Thần đạo. Du khách thường dành 3-5 ngày để hoàn thành các chặng đường hành hương. Tại châu Âu, tuyến hành hương Camino de Santiago ở Tây Ban Nha kéo dài hàng trăm km và thu hút hơn 400.000 người hành hương mỗi năm. Hành trình không chỉ là hoạt động tôn giáo mà còn kết hợp du lịch văn hóa, 8 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Tư n Ngày 11/3/2026 Những tháng đầu năm, dòng người hành hương đổ về các đền chùa và di tích tâm linh trên khắp cả nước ngày càng đông. Sức hút của du lịch tâm linh giúp nhiều địa phương tăng mạnh lượng khách và doanh thu du lịch. Song cùng với sự gia tăng này là áp lực quá tải, nguy cơ thương mại hóa và tình trạng sản phẩm du lịch còn đơn điệu, mang tính mùa vụ. NGƯỜI GIỮ HỒN CHỮ MƯỜNG Chúng tôi có dịp gặp Nghệ nhân ưu tú Bùi Huy Vọng, gương mặt tiêu biểu trong nghiên cứu về văn hóa Mường ở xóm Bưng Cọi, xã Hương Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (cũ), nay là xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ông Vọng vẫn đau đáu một mong muốn giản dị mà lớn lao: tiếng Mường sẽ còn được nói, được viết trong chính đời sống cộng đồng. Bởi với ông, giữ chữ viết Mường không chỉ là gìn giữ một di sản, mà là giữ lấy căn cước của cả một dân tộc. Sinh ra và lớn lên trên đất Mường, ông Vọng không được đào tạo bài bản về ngôn ngữ học, nhưng vì đam mê văn hóa dân tộc, ông không ngừng tự học, sưu tầm, khôi phục các giá trị văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ và chữ viết của dân tộc mình. Ông may mắn được các bậc tiền bối như Tô Ngọc Thanh, các nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Thiện, Bùi Chí Thanh cùng nhiều nghệ nhân, đồng bào Mường truyền dạy, động viên trong hành trình gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa Mường. Với vốn hiểu biết sâu sắc về văn hóa dân tộc Mường, ông được mời tham gia nhiều đề tài khoa học như “Xây dựng bộ gõ, biên soạn tài liệu dạy - học chữ Mường tại tỉnh Hòa Bình”, “Từ điển Việt - Mường”, “Từ điển tiếng Mường” do Viện Ngôn ngữ học chủ trì, tham gia biên soạn Địa chí Hòa Bình cùng một số đề tài khoa học khác. Ông đã dốc sức đi đến các bản Mường ở Thanh Hóa, Phú Thọ để sưu tầm, ghi chép tiếng nói của đồng bào, cùng các nhà khoa học chung tay khôi phục ngôn ngữ, chữ viết Mường. Với ông, ngôn ngữ, chữ viết của người Mường không chỉ tồn tại trong các bài cúng, nghi lễ tâm linh, mà còn là kho tàng tri thức dân gian đồ sộ, kết tinh từ lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và thế giới quan của người Mường qua hàng nghìn năm. “Ngôn ngữ, chữ viết của người Mường còn thì hồn cốt người Mường còn. Ngôn ngữ, chữ viết mất là người Mường mất đi chính mình”, ông Vọng chia sẻ. Theo ông, ngôn ngữ Mường (thiểng Mường) thuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ hệ Nam Á, mang nét chân thật, gần gũi với tiếng Việt cổ. Tuy nhiên, giữa dòng chảy của xã hội hiện đại, tiếng Mường đang đứng trước nguy cơ mai một Giữa miền đất Mường trong tiết trời mùa Xuân, nơi núi đồi trập trùng ôm ấp những bản làng lâu đời, có một người lặng lẽ dành gần trọn cuộc đời mình cùng các nhà nghiên cứu đi tìm, gìn giữ và bảo tồn tiếng nói, chữ viết của người Mường - thứ di sản đang dần khuất lấp trong đời sống hiện đại. Ông là Nghệ nhân ưu tú Bùi Huy Vọng (xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ), người được cộng đồng Mường nhắc đến như một “người giữ hồn chữ Mường”. Xuân về Mường Động, nghe chuyện người đi Có bộ chữ Mường, góp phần quan trọng bảo tồn văn hóa phi vật thể của dân tộc Mường DU LỊCH TÂM LINH: Khách đông, sản phẩm còn nghèo nàn Việt Nam có hệ thống di tích và cơ sở tín ngưỡng dày đặc, rất thuận lợi để phát triển du lịch tâm linh ẢNH: NHƯ Ý nVIẾT HÀ KÝ SỰ Nghệ nhân ưu tú Bùi Huy Vọng

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==