Báo Tiền Phong số 64

CẦU TÀI, CẦU LỘC, CẦU DANH Rạng sáng 3/3, tức 15 tháng Giêng, hàng nghìn người đội mưa xếp hàng trước đền Trần, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình để chờ xin ấn. 5 giờ sáng, ấn được phát tại ba điểm nhà Giải vũ, nhà Trưng bày và đền Trùng Hoa. Người phát ấn làm việc liên tục, trong khi hàng người chờ nhận ấn xếp hàng gần như không có điểm cuối. Khai ấn vốn là tục lệ cổ tại Tiên Miếu nhà Trần, mang ý nghĩa cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình. Theo Ban quản lý khu di tích, năm 2026 thời gian phát ấn được điều chỉnh sớm hơn do không gian mở rộng và phương án an ninh được bảo đảm tốt hơn. Lực lượng chức năng phân luồng giao thông, kiểm soát chặt khu vực hành lễ, ngăn chặn ấn giả, phù hiệu giả. Bề mặt của lễ hội vì thế trông có vẻ trật tự hơn. Song phía sau những hàng người đội mưa ấy là thực tế xin lộc, cầu may đang lấn át dần không gian vui hội, khiến ý nghĩa thưởng thức và sẻ chia văn hóa ngày càng mờ nhạt. Việt Nam hiện có hơn 8.000 lễ hội, phần lớn diễn ra vào mùa xuân. Năm 2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống gồm 9 tiêu chí cụ thể đặt ra yêu cầu chặt chẽ về quản lý, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, hoạt động dịch vụ, ứng xử của người tham gia. Thế nhưng, thực tế nhiều năm qua cho thấy, không ít lễ hội bị thực hành theo hướng cầu tài, cầu lộc. Tại đền Trần, việc xin ấn thường được gán với thăng quan tiến chức, tiến tài tiến lộc. Có những mùa lễ hội, người dân chen lấn, giật lộc, thậm chí lao vào khu vực kiệu rước, gây phản cảm. Tình trạng tương tự từng diễn ra ở Đền Sóc trong lễ hội Gióng với hàng nghìn người tranh giò hoa tre, lộc trầu cau, có năm xảy ra ẩu đả. Lễ hội đánh phết Hiền Quan, Phú Thọ từng phải dừng nghi thức vì lo ngại bạo lực tái diễn. Ở một số nơi, như đền phủ lớn hay Chùa Hương, dịch vụ khấn thuê, gửi lễ trọn năm, cò mồi ăn nghỉ, bán đồ lễ năm nào cũng bủa vây du khách. PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội nhận định: “Lễ hội vốn là không gian cộng đồng để tưởng nhớ tiền nhân và củng cố các giá trị văn hóa, nhưng nếu bị chi phối bởi tâm lý thực dụng, coi đó là nơi trao đổi lợi ích tâm linh, thì giá trị văn hóa sẽ bị thu hẹp”. Ông cho rằng, hiện tượng thương mại hóa và mê tín hóa lễ hội phản ánh nhu cầu tâm lý có thật của xã hội, song nếu buông lỏng quản lý sẽ làm méo mó di sản. TS. Hoàng Lan (Viện Nghiên cứu Tôn giáo) cho rằng, niềm tin tâm linh khi bị đẩy đến cực đoan dễ chuyển thành hành vi mê tín, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường. “Người ta đến lễ hội không chỉ để tham dự nghi thức truyền thống mà còn gửi gắm kỳ vọng cá nhân, thậm chí toan tính lợi ích cụ thể. Nếu thiếu hướng dẫn đúng đắn, tín ngưỡng sẽ bị hiểu sai và thực hành sai”, ông nhấn mạnh. KINH TẾ LỄ HỘI Không thể phủ nhận lễ hội tạo ra nguồn thu đáng kể cho địa phương. Lượng người đổ về đông kéo theo nhu cầu ăn uống, lưu trú, vận chuyển, mua sắm. Song mặt trái là sự nở rộ của dịch vụ thiếu kiểm soát. Tại nhiều điểm hành hương lớn, du khách từng phải vượt qua ma trận cò mồi, từ chỗ gửi xe, mua đồ lễ đến thuê dịch vụ di chuyển. Riêng mùa lễ hội năm nay, tình trạng chèo kéo tại Chùa Hương đã giảm đáng kể nhờ siết chặt quản lý. Ở một số đền, phủ, dịch vụ khấn thuê vẫn hoạt động công khai, thậm chí xuất hiện thêm hình thức “gửi lễ tuần rằm” trọn năm. TS. Hoàng Lan cho biết, trong nhiều chuyến điền dã đầu xuân, bà vẫn bắt gặp cảnh vàng mã chất thành từng đống lớn trước sân đền, khói nghi ngút phủ kín không gian thờ tự. Không ít ban thờ bị rải tiền lẻ dày đặc, thậm chí tiền được giắt lên tay tượng Phật, tượng Thánh như một cách đánh dấu lòng thành. Theo bà, đó là biểu hiện của tâm lý muốn trao đổi lợi ích với thần linh. “Niềm tin tôn giáo vốn hướng con người đến sự tu dưỡng nội tâm, nhưng khi bị hiểu sai, nó dễ biến thành hành vi cầu cạnh vật chất, coi việc dâng nhiều tiền hay đốt nhiều vàng mã là thước đo của linh ứng”, bà phân tích. Một cán bộ quản lý di tích tại Hà Nội thừa nhận, nhiều địa phương coi mùa lễ hội là “mùa làm ăn”. Nếu quản lý không quyết liệt, lợi ích kinh tế trước mắt dễ lấn át mục tiêu bảo tồn. So với trước đây, yếu tố “hội” 8 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Năm n Ngày 5/3/2026 An ninh được siết chặt, tiêu chí quản lý được ban hành, song cảnh chen lấn, khấn thuê, đốt vàng mã tràn lan vẫn chưa biến mất. Lễ hội ngày càng đông, xu hướng ngày càng nặng về cầu tài, cầu lộc. Phần hội, yếu tố văn hóa cộng đồng dường như mờ nhạt trước tâm lý thực dụng đang lan rộng. TRE GIÀ ĐƠN ĐỘC GIỮ LỬA NGHỀ Từng một thời hưng thịnh với hơn 100 hộ dân sản xuất, làng gốm Quế An giờ đây chỉ còn lại duy nhất hộ bà Võ Thị Sương (54 tuổi) bám trụ với nghề. Các sản phẩm gốm đều được bà làm thủ công, như lu, ảng, ấm, nồi niêu, bùng binh heo đất... nổi tiếng là bền đẹp được bán khắp các khu chợ trong và ngoài địa phương. Ngồi bên nồi rượu đang nấu dở để trang trải thêm cuộc sống, bà Sương tâm sự: “Nghề gốm ni cực lắm, nhiều khi làm hư rồi phải sửa rất nhiều lần dễ nản chí, nhưng tôi rất mê, có đi đâu thì tôi vẫn muốn quay về đây để làm gốm”. Dẫu thu nhập khiêm tốn, bà Sương cùng chồng là ông Giang Ngọc Xanh vẫn miệt mài bên bàn xoay và lò nung suốt bao năm. Sản phẩm gốm Quế An có thể không vang danh như gốm Thanh Hà (Hội An) hay Bát Tràng, nhưng lại là sinh kế nuôi sống bao thế hệ dân làng suốt chiều dài lịch sử. Thế nhưng điều đáng buồn là hiện làng nghề không có người nối nghiệp. “Người trẻ không ai còn để ý tới cái nghề ni nữa, nếu cho tôi một điều ước, tôi mong rằng làng nghề sẽ phục hồi và phát triển trở lại cái ngày huy hoàng lúc trước”, bà Sương nghẹn ngào. Cùng với vợ duy trì nghề, ông Giang Ngọc Xanh (54 tuổi) vẫn luôn bền bỉ nhóm lửa lò hy vọng nghề sẽ không bao giờ lụi tàn. Ông nhẩm tính: “Khoảng vài chục năm về trước làng này phần lớn nguồn sinh kế là làm gốm. Giá sản phẩm hiện tại dao động khoảng 25 ngàn đến 40 ngàn đồng một cái. Đơn đặt có khi nhiều làm từ sáng đến tối khuya mà vẫn không đủ. Có khoảng thời gian nhờ thêm người về làm nhưng phần lớn không ai kiên trì nên dần không còn ai, họ bảo nghề này vất vả mà thu nhập lại thấp hơn so với công sức nên nản”. MỘT THỜI VANG BÓNG Sự thật là làng nghề gốm Quế An khó có thể tồn tại, khi người trẻ không còn nặng lòng, người già không đủ sức làm. Ông Phạm Làng gốm Quế An thôn Tây Trà, xã Quế Sơn, thành phố Đà Nẵng còn được gọi với cái tên thân thương là làng Lò Nồi, từ một làng nghề sầm uất có tuổi đời hơn 300 năm hiện chỉ còn lại một người giữ nghề. Làng nghề... một người Lò nung bằng gạch khuất sau vườn nhà, mọc đầy cỏ dại ẢNH: TRÚC LY Một số sản phẩm của làng gốm Quế An Lễ hội càng đông càng nặng cầu cúng Lễ hội nếu bị chi phối bởi tâm lý thực dụng, coi đó là nơi trao đổi lợi ích tâm linh, thì giá trị văn hóa sẽ bị thu hẹp nMỸ LY - TRÚC LY KÝ SỰ Ông Giang Ngọc Xanh chồng bà Sương chuốt nồi gốm - sản phẩm ngày càng hiếm hoi của làng nghề ẢNH: N.Q

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==