XÃ HỘI 5 28/2-1/3/2026 www.tienphong.vn quản lý tự kiểm tra mình. Cần có sự tham gia của cộng đồng, bởi chính người dân địa phương mới là những thanh tra viên khách quan và sát thực nhất”, ông nói. Người dân có quyền biết tiền công đức được thu bao nhiêu, chi vào việc gì, và có quyền phản ánh nếu phát hiện dấu hiệu tiêu cực. Khi cộng đồng được trao quyền giám sát, khả năng biển thủ hay trục lợi cá nhân sẽ giảm đi đáng kể. CÂU HỎI TIỀN CÔNG ĐỨC Ở CHÙA TƯ Phạm vi điều chỉnh của Thông tư 04/2023/TT-BTC không bao trùm toàn bộ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, mà tập trung vào một đối tượng cụ thể: các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc nằm trong danh mục kiểm kê của UBND cấp tỉnh. Điều này có nghĩa, những điểm thờ tự gắn với di sản đã được Nhà nước công nhận sẽ phải tuân thủ đầy đủ quy định về mở tài khoản, kiểm đếm, hạch toán, công khai thu chi tiền công đức. Ngược lại, các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo không gắn với di tích xếp hạng hoặc không nằm trong danh mục kiểm kê, thì không thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Thông tư. Luật sư Nguyễn Minh Tuấn (Đoàn Luật sư Hà Nội) phân tích rằng sự phân định này nhằm tránh việc can thiệp quá sâu vào đời sống nội bộ của các tổ chức tôn giáo. “Nhà nước chỉ điều chỉnh phần tài chính gắn với di tích thuộc diện quản lý di sản hoặc có yếu tố công. Nếu một cơ sở thờ tự hoàn toàn tư nhân, không xếp hạng di tích, không sử dụng ngân sách nhà nước, thì việc thu, chi nội bộ không chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Thông tư 04. Tuy nhiên, khi có yếu tố liên quan đến tài sản công, đến bảo tồn di sản hoặc kết hợp ngân sách nhà nước, thì trách nhiệm báo cáo và minh bạch là bắt buộc,” ông nói. Đại diện Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình cho biết, do quy định không can thiệp vào tiền công đức của những cơ sở tín ngưỡng không thuộc diện quản lý Nhà nước nên tiền công đức ở các địa điểm này đều do Ban quản lý và người đứng đầu cơ sở chịu trách nhiệm. Rất khó để thống kê đầy đủ số tiền thu vào là bao nhiêu. n Thiếu minh bạch trong quản lý tiền công đức không chỉ làm mất niềm tin cộng đồng mà còn kéo theo hệ lụy pháp lý nghiêm trọng. Theo quy định tại Nghị định 38/2021/NĐ-CP, các hành vi như không báo cáo kết quả tổ chức lễ hội, thu tiền trái quy định, ép buộc cá nhân đóng góp, hoặc lợi dụng hoạt động lễ hội để trục lợi cá nhân đều bị xử phạt hành chính với mức tiền từ vài trăm nghìn đến hàng chục triệu đồng. Nếu hành vi vi phạm gây thất thoát tài sản lớn, đặc biệt là tại các di tích công lập, những cá nhân liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản hoặc thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Bộ luật Hình sự. Theo PGS.TS Trần Thành Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, trước hết cần làm rõ khái niệm và phạm vi của tiền công đức. Đây là khoản tiền người dân tự nguyện đóng góp vì niềm tin tâm linh, không phải khoản phí dịch vụ. Tuy nhiên, tại nhiều điểm đến, bên cạnh hòm công đức tồn tại hàng loạt dịch vụ đi kèm như vé tham quan, gửi xe, cáp treo, bán đồ lưu niệm, phát ấn, dâng sao giải hạn… Nếu không có cơ chế quản lý minh bạch, ranh giới giữa công đức và doanh thu kinh doanh sẽ bị xóa nhòa. Ông Nam cho rằng cần thay đổi cả thói quen văn hóa của người đi lễ, không thể “chỗ nào cũng nhét tiền”. Tiền công đức phải được đặt đúng nơi quy định, có hướng dẫn rõ ràng. Về lâu dài, nên tiến tới số hóa, hạn chế sử dụng tiền mặt trong chùa để bảo đảm minh bạch. Các cơ sở tâm linh cần xây dựng quy tắc ứng xử thống nhất, tránh để các hành vi mang tính tự phát làm biến dạng không gian văn hóa tín ngưỡng. Ở góc độ quản lý nhà nước, vai trò của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được nhấn mạnh trong việc ban hành bộ quy tắc ứng xử chung, đồng thời có văn bản hướng dẫn chi tiết về phân loại các khoản thu. Những khoản thuộc hoạt động dịch vụ như vé tham quan, vận chuyển, lưu trú, bán hàng hóa… phải do doanh nghiệp quản lý, hạch toán và nộp thuế theo đúng quy định. Trong khi đó, tiền công đức cần được quản lý theo cơ chế riêng, có công khai thu - chi, phân bổ rõ ràng cho trùng tu di tích, duy trì hoạt động tín ngưỡng và phát triển bền vững. Luật sư Đặng Văn Cường (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho rằng, doanh nghiệp tham gia đầu tư, khai thác du lịch tâm linh phải hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai, hạch toán và nộp thuế. Với các cơ sở tôn giáo do Nhà nước quản lý, quy định về tiền công đức cần được hiểu thống nhất: đó là khoản tự nguyện vì yếu tố tín ngưỡng, kể cả những khoản nhỏ như “tiền giọt dầu”. “Khi đã có quy định kê khai, các chủ thể thuộc diện điều chỉnh phải thực hiện nghiêm túc để bảo đảm minh bạch. Các chùa, cơ sở tín ngưỡng có nguồn thu lớn càng cần công khai việc sử dụng, tránh tâm lý tiền chùa, chi tiêu thiếu kiểm soát hoặc sai mục đích. Việc rà soát quy chế chi tiêu nội bộ, tăng cường giám sát là điều cần thiết để phòng ngừa nguy cơ thâm hụt, tiêu cực”, luật sư Cường nói. Theo Luật sư Cường, nhiều quốc gia như Thái Lan đã thực hiện công khai chi phí cho hoạt động tín ngưỡng, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Tại Việt Nam, mô hình doanh nghiệp đầu tư xây dựng khu du lịch tâm linh tách bạch phần quản lý di tích, tín ngưỡng theo pháp luật chuyên ngành với phần kinh doanh dịch vụ theo pháp luật doanh nghiệp. GIAO QUYỀN CHO ĐỊA PHƯƠNG Việc quản lý tiền công đức thực hiện theo Thông tư 04/2023 của Bộ Tài chính, trong đó, quy định chi tiết việc mở sổ sách ghi nhận thu chi khoản tiền công đức, đối tượng áp dụng, nội dung chi cụ thể. Để phù hợp với thực tế, địa phương cũng hướng dẫn để đơn vị dễ thực hiện. Tại tỉnh Hưng Yên, năm 2025, UBND tỉnh ban hành quyết định quy định về mức trích từ tiền công đức, tài trợ các di tích được giao cho đơn vị sự nghiệp công lập và Ban quản lý di tích kiêm nhiệm quản lý, sử dụng trên địa bàn. Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý di tích sẽ sử dụng tiền công đức theo tỷ lệ sau: trích 3% tạo nguồn kinh phí tu bổ, phục hồi di tích khác trên địa bàn tỉnh (số tiền này chuyển vào tài khoản riêng của sở Văn hóa, thể thao và du lịch); trích 25% để chi hoạt động lễ hội; trích 20% để chi hoạt động thường xuyên của đơn vị và 52% chi các khoản chi đặc thù theo quy định (như: chi tiền lương, phụ cấp cho người làm việc hoặc trông coi di tích, chi thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, lễ tân...) Đối với di tích được giao cho Ban quản lý di tích kiêm nhiệm quản lý, sử dụng sẽ chi theo tỷ lệ: trích 20% để chi hoạt động lễ hội; 20% để chi hoạt động thường xuyên; 60% cho khoản chi đặc thù. Theo Vụ Tài chính kinh tế ngành (Bộ Tài chính), mùa lễ hội năm 2026, các ban quản lý di tích, cơ sở thờ tự và đơn vị tổ chức lễ hội vẫn phải tiếp tục thực hiện việc mở sổ, ghi chép, quản lý tiền công đức theo đúng quy định tại Thông tư 04. Năm 2025, Bộ Tài chính đã tổ chức nhiều đoàn công tác, khảo sát thực tế tại các địa phương nhằm ghi nhận ý kiến, phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý và ghi chép tiền công đức. Đại diện Bộ Tài chính nhấn mạnh, trong quá trình triển khai, nếu địa phương hoặc đơn vị quản lý phát sinh vướng mắc, có thể chủ động phản ánh để Bộ Tài chính ghi nhận, tổng hợp làm cơ sở nghiên cứu khi tiến hành sửa đổi Thông tư 04 trong thời gian tới. n Cần rạch ròi hoạt động kinh doanh và tâm linh VIỆC QUẢN LÝ TIỀN CÔNG ĐỨC TẠI KHU DU LỊCH TÂM LINH CẦN MINH BẠCH, RẠCH RÒI GIỮA YẾU TỐ TÂM LINH VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH. SỰ MINH BẠCH NÀY GÓP PHẦN GIÚP TẠO NIỀM TIN CHO NGƯỜI DÂN VÀ DU KHÁCH THẬP PHƯƠNG. NGỌC LINH Chuyên gia đề xuất tách bạch quản lý tiền công đức và hoạt động kinh doanh QUẢN LÝ THẾ NÀO? Toàn bộ số tiền sau khi thu gom được đưa về khu vực lưu trữ chung và tiếp tục niêm phong trước khi kiểm đếm định kỳ. Thời điểm mở niêm phong và tổng hợp số liệu được thực hiện khi có kế hoạch phù hợp, thường sau giai đoạn cao điểm đầu năm, và đều có lập biên bản. Đối với việc áp dụng mã QR, ông Quyền cho hay, hình thức này đã được triển khai từ năm 2021 nhằm tạo thuận lợi cho du khách chuyển khoản thay vì sử dụng tiền mặt. Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, ông Trần Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Bảo Hà cho biết, việc quản lý tiền công đức tại Đền Bảo Hà được thực hiện theo quy trình có sự giám sát của nhiều bên liên quan. Liên quan đến việc áp dụng mã QR trong tiếp nhận công đức, ông Kiên cho biết, địa phương đã triển khai từ những năm trước, song thực tế phần lớn người dân vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt, đặc biệt là tiền lẻ khi đi lễ đầu năm. “Việc số hóa hoàn toàn là rất khó vì còn liên quan đến tập quán của người dân. Tuy nhiên, địa phương đang nghiên cứu phương án hiện đại hóa, minh bạch hơn trong quản lý, có thể nhờ đơn vị tư vấn hỗ trợ để từng bước số hóa các khoản thu phù hợp”, ông Kiên nói. n
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==