Báo Tiền Phong số 59-60

Tôi sinh ra trong một mái nhà tranh vách đất, nơi đồng lúa trải dài mênh mông như nỗi lo toan. Cha còng lưng đồng ruộng, mẹ thức khuya dậy sớm gánh chợ làng. Từ thuở ấu thơ, thi ca với tôi là những âm thanh xa xôi, mơ hồ – vài câu thơ trong sách giáo khoa được học thuộc lòng. Làm sao một đứa trẻ bụng đói, chân đất có thể chạm đến vẻ đẹp sâu thẳm của những vần điệu ấy? Thi ca dường như thuộc về một vùng trời khác. Với tôi khi ấy, thơ chỉ là những âm thanh trầm bổng vô định, chẳng thể khỏa lấp được cái bụng rỗng hay mua cho tôi một xấp vở mới. Sự nghèo khó dạy con người ta sống bằng bản năng sinh tồn trước khi biết đến sự rung động của tâm hồn. Tôi đã bước vào đời với một tâm thế đầy lý trí, tin rằng chỉ có con số, kỹ thuật và sự tính toán mới thay đổi được số phận. Nhưng cuộc đời vốn dĩ không phải là một bài toán cộng trừ. Càng lớn lên, khi đối mặt với những va đập đầu đời, tôi mới nhận ra rằng con người ta tồn tại bằng cơm áo, nhưng để sống đúng nghĩa, người ta cần điểm tựa cho tâm hồn – một thứ tưởng như vô hình nhưng đủ sức nuôi dưỡng niềm hy vọng. Và rồi đời sống, như dòng sông lặng lẽ, bồi đắp cho tôi từng lớp phù sa cảm xúc. Những đêm trằn trọc bên hiên nhà, những cuốn sách cũ kỹ mượn được từ thầy cô, những khoảnh khắc cô đơn khiến lòng tôi tìm đến lời thơ như tìm một bến bờ trú ẩn. Giờ đây, khi đã là một giáo viên dạy văn, một người nghiên cứu văn chương, tôi nhận ra thi ca là bầu trời trong trẻo, lộng gió, nâng đỡ con người bằng những giá trị sâu lắng mà lý trí lạnh lùng hay thực dụng khắc nghiệt không thể thấu hiểu. Nó là ngọn gió thoảng qua, là cơn mưa dịu dàng tưới mát cõi lòng khô cằn, là ánh trăng soi sáng những góc khuất của tâm hồn. Thi ca không đo lường lợi ích, không là đường đến giàu sang. Nó là dòng suối ngầm len lỏi vào đời sống, nuôi dưỡng văn hóa, giáo dục thiện lương. Trong xã hội hôm nay, nơi nhiều thứ bị quy về con số và hiệu suất, thi ca nhắc nhở chúng ta về những giá trị vô hình: sự đồng cảm, vẻ đẹp dịu dàng của nỗi buồn, sức mạnh thầm lặng của hy vọng. Nó là nền tảng của văn hóa dân tộc. Và từ thi ca mà âm nhạc, hội họa, kịch nghệ… nảy nở như những nhánh hoa bung nở từ một gốc rễ chung. Thi ca có phần tinh hoa, huyền ảo, khó nắm bắt – dành cho những tâm hồn tinh tế, những người đi sâu học tập nghiên cứu; nhưng cũng có phần bình dân, gần gũi, đại chúng – len lỏi vào đời sống qua lời ru êm ái, câu ca dao mộc mạc. Tôi vẫn nhớ, mẹ xưa thường ru tôi bằng những vần điệu dân gian: “Con cò lặn lội bờ sông gánh gồng”. Lúc ấy, tôi chưa hiểu ý nghĩa sâu xa, nhưng giờ đây, tôi biết đó là thi ca thuần khiết, dạy ta về tình mẫu tử hy sinh, về sự kiên cường lặng lẽ giữa đời thường. Trong hành trình trưởng thành, tôi đi tìm thêm vẻ đẹp mê hoặc ấy. Thi ca Việt dù ở vùng miền hay thời đoạn nào, vẫn là dòng chảy đa dạng nhưng hòa quyện những nỗi niềm riêng, cùng chung một khát khao nâng đỡ tâm hồn dân tộc. Văn Cao - như một hồn thơ bay bổng, kết hợp giữa thi ca và âm nhạc. Thơ ông giản dị mà sâu lắng, một Văn Cao của những vần thơ u mặc: “Thời gian qua kẽ tay/ Làm khô những chiếc lá/ Kỷ niệm trong tôi/ Rơi/ như tiếng sỏi/ trong lòng giếng cạn/ Riêng những câu thơ/ còn xanh/ Riêng những bài hát/ còn xanh/ Và đôi mắt em/ như hai giếng nước (Thời gian). Thi ca của ông là sự tinh lọc của cái đẹp, là đỉnh cao của sự lịch lãm trong ngôn từ Việt. Có một Văn Cao “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi/ Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời/ Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan/ Quê hương dần xa lấp núi ngàn/ Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền/ Ai hát trên bờ Đào Nguyên…” (Thiên Thai). Nhưng cũng có một Văn Cao hùng ca. Văn Cao đã biến thi ca thành sức mạnh tinh thần, nâng đỡ tâm hồn dân tộc bằng những vần thơ hùng tráng. Quang Dũng khắc họa vẻ đẹp anh hùng trong “Tây Tiến”: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành / Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Những vần thơ ấy tôn vinh vẻ đẹp bi tráng của người lính giải phóng, của thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ. Cùng dòng thơ mang sắc thái lãng mạn, u uẩn, hoài niệm, Tô Thùy Yên là những vần thơ bi tráng. Trong “Chiều trên phá Tam Giang”, ông viết những câu giản dị mà khiến lòng người rung động: “Chiều trên phá Tam Giang / Anh chợt nhớ em, nhớ bất tận...”. Thơ Tô Thùy Yên, Lưu Quang Vũ và nhiều nhà thơ cùng thời, là nơi trú ẩn cho những tâm hồn bị tổn thương. Nó cho thấy thi ca không đi qua tâm hồn bằng lý trí, mà bằng cảm xúc hay biểu tượng, giúp con người vượt qua thực tại khắc nghiệt. Nguyên Sa lại mang đến vẻ đẹp dịu dàng của tình yêu và hoài niệm. Trong “Áo lụa Hà Đông”, ông khắc họa: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng”. Tà áo lụa Hà Đông vẫn bay trong nắng Sài Gòn dù khi đó hai miền bị chia cắt. Đó chính là vẻ đẹp của Việt Nam không thể tách rời. Những nghệ sĩ mà thi ca hòa quyện với âm nhạc càng làm phong phú sinh thái ấy. Trịnh Công Sơn, với ca từ thi ca thuần túy, như trong “Diễm Xưa”: “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ / Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao / Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ / Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu”. Những lời ấy như cơn mưa Huế nhẹ nhàng, nâng đỡ tâm hồn tôi trong những ngày đầu bỡ ngỡ với cuộc sống. Có những ca từ của Trịnh Công Sơn bản chất đã là một bài thơ giá trị. Khi ông viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai tôi về làm cát bụi”, ông đã đưa cả một hệ tư tưởng Phật giáo và triết lý nhân sinh vào lòng đại chúng. Nhạc Trịnh là sự cứu rỗi, là nơi thi ca đi vào từng căn nhà, từng góc phố, nuôi dưỡng lòng trắc ẩn cho bao thế hệ. Thi ca Trịnh Công Sơn phản ánh nỗi đau chiến tranh, chia ly, nhưng cũng là ước vọng hòa bình không bao giờ tắt. Thi ca đương đại tiếp nối dòng chảy ấy, phản ánh những vấn đề của thế giới và đất nước hôm nay: đô thị hóa, môi trường, thân phận con người trong thời đại số. Thơ họ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa tinh hoa và đại chúng. Nhiều nhà thơ đã đóng góp không nhỏ vào việc phát triển, làm đẹp, làm phong phú hơn ngôn ngữ Việt. Thế hệ này không còn viết về hoa hồng hay mây gió theo lối cũ. Họ viết về rác thải, về mạng xã hội, về sự vô cảm và những nỗi đau không tên của con người hiện đại. Thi ca hôm nay không chỉ để ngâm vịnh, mà để thức tỉnh. Nó là tiếng chuông báo động trước một thế giới đang quá thiên về vật chất và dần đánh mất đi sự kết nối tâm hồn. Thi ca, cuối cùng, là vùng trời mênh mông, lộng gió, nơi tâm hồn được bay bổng, được chữa lành. Nó là sinh thái văn hóa bất diệt, từ cổ đại đến đương đại, từ tinh hoa đến bình dân. Với tôi, thi ca là món quà đời sống ban tặng, giúp ta vượt qua lý trí khắc nghiệt và thực dụng lạnh lùng, để tìm thấy vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng trong từng khoảnh khắc đời thường. Tôi nhận ra thi ca không phải là vẻ đẹp phù phiếm dành cho kẻ nhàn hạ; nó là một thực thể sống động, một “hệ sinh thái” nâng đỡ con người khi họ kiệt cùng nhất. Người ta có thể dùng toán học để xây cầu, dùng kinh tế để làm giàu, nhưng chỉ có thi ca mới giúp con người hiểu được tại sao trái tim mình lại thắt lại trước một nhành hoa rụng hay một kiếp người lầm than. Nó là giá trị ngầm ẩn trong cả đời sống của mỗi người, từ tiếng ru hời của mẹ đến những lời ai điếu cuối cùng bên huyệt mộ. Trong một thế giới đang quay cuồng với những giá trị ảo, thi ca vẫn đứng đó như một cột mốc bình yên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng hạnh phúc không phải là có thật nhiều về số lượng, mà là cảm nhận được thật sâu. n 28/2-1/3/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC ngầm ẩn HẠNH THI NGUYÊN của Thi Ca MINH HỌA: VŨ XUÂN TIẾN (Cho Ngày Thơ Việt Nam Nguyên Tiêu năm Bính Ngọ) Vẻ đẹp

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==