Báo Tiền Phong số 54

Loạt dự án năng lượng tỷ USD chờ “bật công tắc” 13 n Thứ Hai n Ngày 23/2/2026 KINH TẾ Theo Quy hoạch điện VIII và các kế hoạch triển khai cập nhật, riêng giai đoạn 20262030, hệ thống điện Việt Nam cần bổ sung hàng chục nghìn MW nguồn mới, trong đó trọng tâm là điện khí LNG, năng lượng tái tạo quy mô lớn và hạ tầng lưới điện truyền tải, nhằm đáp ứng đà tăng phụ tải và nâng cao an ninh năng lượng trong bối cảnh cơ cấu nguồn chuyển dịch nhanh. Với điện khí LNG, nhiều dự án đã hoàn tất các bước chuẩn bị quan trọng về quy hoạch, địa điểm, hồ sơ môi trường, lựa chọn nhà đầu tư và cấu trúc tài chính sơ bộ, tạo nền tảng để có thể khởi công trong năm 2026 nếu cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện (PPA) sớm được chốt. Điển hình, hai dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG tỷ USD tại Quảng Trị chuẩn bị được khởi công trong năm 2026; trong đó LNG Quảng Trạch II (tổng mức đầu tư khoảng 2,1 tỷ USD) dự kiến khởi công trong quý I/2026, còn LNG Quảng Trạch III (khoảng 1,6 tỷ USD) đặt mục tiêu khởi công quý IV năm nay. Ngoài ra, các dự án LNG quy mô lớn tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghi Sơn, Cà Ná, Bạc Liêu tiếp tục nằm trong danh mục trọng điểm chuẩn bị đầu tư, mỗi dự án có công suất phổ biến 1.200-1.500 MW với quy mô vốn hàng tỷ USD. Làn sóng điện khí kéo theo yêu cầu phát triển hạ tầng LNG. Các kho chứa và cảng tiếp nhận LNG tại Thái Bình, Quảng Ninh, Nghi Sơn, Bạc Liêu được định hướng triển khai song hành với các nhà máy điện theo lộ trình thị trường, nhằm từng bước giảm phụ thuộc vào LNG giao ngay và tăng tính chủ động nguồn nhiên liệu trong bối cảnh giá khí toàn cầu còn biến động. Song song các dự án LNG độc lập, các chuỗi khí - điện chiến lược như Lô B - Ô Môn (3.810 MW tại Cần Thơ) và Cá Voi Xanh (3.750 MW tại khu vực Đà Nẵng - Quảng Ngãi) đang được thúc đẩy hoàn tất các điều kiện tiền đề quan trọng. Dù tiến độ còn phụ thuộc đàm phán và quyết định đầu tư cuối cùng song, năm 2026 được coi là mốc chuyển từ chuẩn bị kéo dài sang triển khai thực chất, qua đó tạo “đầu kéo” thu hút vốn, công nghệ và chuỗi dịch vụ phụ trợ. Ngoài ra, các cụm điện gió ngoài khơi quy mô hàng nghìn MW tại Nam Trung bộ và Tây Nam bộ đang hoàn tất khảo sát địa chất, hải văn, chuẩn bị khung pháp lý và cấu trúc tài chính; khi bước vào giai đoạn đầu tư với mỗi dự án có thể đạt quy mô vốn vài tỷ USD. Đáng chú ý, sau giai đoạn bùng nổ điện mặt trời và điện gió trên bờ, năm nay, điện gió quy mô lớn cũng sẽ quay lại đường đua, nhất là tại Nam Trung bộ và Tây Nam bộ. Nhiều dự án đã hoàn tất đo gió, khảo sát địa hình, chuẩn bị mặt bằng, sẵn sàng tái khởi động khi cơ chế giá điện giai đoạn mới được ban hành. Chuyên gia năng lượng Nguyễn Huy Hoạch cho rằng, để các dự án năng lượng quy mô lớn được khởi công sớm và bảo đảm đúng tiến độ, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở công nghệ hay từng loại hình nguồn điện, mà ở thiết kế thể chế thị trường và cơ chế phân bổ rủi ro - thu hồi chi phí đầu tư. Theo ông Hoạch, trong những vấn đề nêu trên, một số điểm nghẽn như hợp đồng mua bán điện dài hạn (PPA), cơ chế thanh toán công suất sẵn sàng, đấu thầu dài hạn, thị trường công suất, cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện và khách hàng sử dụng điện lớn (DPPA)... cần sớm được tháo gỡ. Trong thị trường điện cạnh tranh, nếu thiếu các cơ chế đủ ổn định để nhà đầu tư thu hồi chi phí cố định, các dự án quy mô tỷ USD từ điện khí LNG, thủy điện tích năng, điện gió ngoài khơi đến hạ tầng truyền tải đều khó đảm bảo yếu tố tài chính và triển khai đúng tiến độ. DƯƠNG HƯNG Sau giai đoạn chững nhịp vì vướng cơ chế và chậm phê duyệt quy hoạch, 2026 được coi là năm “bật công tắc” đầu tư, mở đầu chu kỳ tăng tốc mới của hạ tầng năng lượng. Hàng loạt dự án quy mô lớn đang bước vào giai đoạn chuẩn bị triển khai. Điện khí LNG ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam Theo Quy hoạch điện VIII và các kế hoạch triển khai cập nhật, riêng giai đoạn 2026-2030, hệ thống điện Việt Nam cần bổ sung hàng chục nghìn MW nguồn mới, trong đó trọng tâm là điện khí LNG, năng lượng tái tạo quy mô lớn và hạ tầng lưới điện truyền tải, nhằm đáp ứng đà tăng phụ tải và nâng cao an ninh năng lượng trong bối cảnh cơ cấu nguồn chuyển dịch nhanh. Theo cơ quan hải quan, trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, phía Trung Quốc tạm dừng làm thủ tục thông quan hàng hóa từ ngày 15/2 (28 tháng Chạp năm Ất Tỵ) đến hết ngày 18/2 (mùng 2 Tết) tại các tuyến đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa khu vực Hữu Nghị, Tân Thanh và Cốc Nam. Từ ngày 19/2 (mùng 3 Tết), hoạt động thông quan được khôi phục, ưu tiên xử lý các lô hàng doanh nghiệp đã đăng ký trước đó, qua đó nhanh chóng “giải phóng” lượng hàng tồn sau kỳ nghỉ. Ông Nông Quang Hưng - Phó Đội trưởng Hải quan cửa khẩu Tân Thanh, Chi cục Hải quan khu vực VI - cho biết, ngay từ mùng 3 Tết, không khí thông quan tại cửa khẩu đã sôi động trở lại. Đến mùng 5 Tết, lượng xe hàng xuất nhập khẩu qua cửa khẩu tiếp tục duy trì ở mức cao, chủ yếu là nông sản và hoa quả tươi. Diễn biến này phản ánh nhu cầu “xông đất” thị trường Trung Quốc của doanh nghiệp ngay sau kỳ nghỉ, khi các đơn hàng được đẩy nhanh để tranh thủ nhịp giao thương đầu năm. Để đáp ứng lưu lượng phương tiện tăng nhanh trong những ngày đầu năm, lực lượng Hải quan tại cửa khẩu Tân Thanh đã chủ động bố trí cán bộ, công chức trực xuyên Tết, duy trì chế độ làm việc 24/7, bảo đảm tiếp nhận, xử lý hồ sơ nhanh gọn, đúng quy định. Việc tổ chức thông quan linh hoạt giúp hạn chế ùn ứ, rút ngắn thời gian chờ đợi cho doanh nghiệp, đặc biệt với nhóm hàng nông sản có yêu cầu cao về thời gian và điều kiện bảo quản. Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, xuất nhập khẩu và quá cảnh cũng duy trì nhịp độ ổn định trong những ngày đầu xuân. Bên cạnh hàng hóa, lưu lượng hành khách qua cửa khẩu tăng cao, phản ánh nhu cầu giao thương, du lịch và thăm thân giữa Việt Nam và Trung Quốc sôi động trở lại ngay sau Tết. Nhịp thông quan nhanh chóng tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc diễn ra trong bối cảnh thương mại cả nước có dấu hiệu khởi động tích cực từ đầu năm. Số liệu sơ bộ của Cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 1 của nhiều địa phương công nghiệp lớn tăng mạnh, phản ánh đơn hàng xuất khẩu đã vào guồng sớm, doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu và kế hoạch giao hàng. Đáng chú ý, trong tháng 1, kim ngạch xuất khẩu của Bắc Ninh đạt khoảng 8,51 tỷ USD, vượt TPHCM với 8,12 tỷ USD. Ở chiều nhập khẩu, Bắc Ninh cũng đứng đầu với kim ngạch khoảng 8,87 tỷ USD, trong khi TPHCM đạt 8,72 tỷ USD, đưa địa phương này tạm thời vươn lên vị trí “đầu tàu xuất khẩu” của cả nước ngay trong tháng mở màn năm 2026. Diễn biến này cho thấy các tổ hợp sản xuất điện tử - công nghệ cao tại Bắc Ninh đã khởi động sớm, duy trì nhịp xuất hàng đều ngay sau Tết. Với vai trò “công xưởng” của nhiều tập đoàn FDI lớn trong lĩnh vực điện tử, bán dẫn, thiết bị thông minh, kim ngạch xuất khẩu của địa phương này gắn chặt với tiến độ đơn hàng toàn cầu. Ở chiều nhập khẩu, dòng linh kiện, máy móc tiếp tục đổ mạnh về các trung tâm sản xuất như Bắc Ninh, TPHCM, Hà Nội và Phú Thọ. Riêng Hà Nội nhập khẩu khoảng 5,01 tỷ USD trong tháng 1, cho thấy vai trò đầu mối nhập nguyên liệu, thiết bị cho chuỗi sản xuất - lắp ráp khu vực phía Bắc. Sự gia tăng nhập khẩu đầu vào ngay từ đầu năm là chỉ báo sớm cho chu kỳ đơn hàng mới. Doanh nghiệp không “chờ đợi” sau Tết mà chủ động gom nguyên liệu, đẩy nhanh tiến độ sản xuất, hạn chế độ trễ thường thấy của quý I. XUÂN PHONG Xuất nhập khẩu sôi động ngay sau Tết Những ngày đầu xuân Bính Ngọ, xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu nhanh chóng trở lại nhịp sôi động. Nhiều lô hàng được thông quan ngay từ khi mở cửa làm việc, nối lại dòng chảy giao thương, tạo không khí khởi động tích cực cho thương mại đầu năm. Nhiều lô hàng nông sản “xông đất” trong năm mới

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==