trên các nền tảng du lịch, mạng xã hội, được nhiều blog du lịch nước ngoài giới thiệu như một điểm đến văn hóa đặc sắc. Chủ các cửa hàng cho biết, nhiều du khách nước ngoài đặc biệt thích những mẫu tranh có chủ đề đời sống, lễ hội, con vật, bởi tính biểu tượng rõ ràng và câu chuyện đằng sau. Ví dụ, bức “Đám cưới chuột”, bên cạnh những thông tin về nội dung, chất liệu tranh, người bán còn thòng một “thông điệp” khá thú vị: “Bài học ông cha ta gửi gắm qua bức tranh là để giữ được giá trị sống của mình để thủ thân, bảo toàn tính mạng, phải khôn khéo, linh hoạt, quyền biến, hết sức tỉnh táo với kẻ thù”. Hoặc bức “Hứng dừa” được thuyết minh như sau: “Bức tranh mang ý nghĩa sâu sắc về sự đoàn kết, đồng lòng của cả gia đình trong việc vun đắp hạnh phúc, “Khen ai khéo dựng nên dừa/ Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi”… Việc có sẵn bản thuyết minh tiếng Anh, Pháp, Nhật giúp khách nước ngoài dễ tiếp cận hơn, thậm chí cả một đoạn thơ như thế này cũng có bản tiếng Anh: “Hỡi cô đi đường cái quan/ Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu/ Mua tờ tranh điệp tươi màu/ Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều”. Chantal Marceau, nghiên cứu sinh người Bỉ chia sẻ, cô đến Hoàng Hoa Thám để mua tranh Đông Hồ về làm quà cho bạn, vốn đã từng đến tận làng Hồ, Chantal biết, “ở đó người ta không có bức “Cá chép vượt Vũ Môn” mà chỉ có “Lý ngư vọng nguyệt”, nhưng vì quá thích cách giải thích của người bán tranh, về ý nghĩa tốt đẹp của tích vượt Vũ Môn, Chantal đã mua hẳn ba bức để về làm quà cho bạn. Chantal cho rằng, tranh Đông Hồ không nên chỉ tồn tại như một ký ức được bảo tồn, mà có thể để nó sống như một thực thể đang vận động, thích nghi và lan tỏa. Như thế dòng tranh này mới có cơ hội thoát khỏi số phận phải “bảo vệ khẩn cấp”. HẠ ĐAN 9 n Thứ Hai n Ngày 5/1/2026 ra thế giới VĂN HÓA - GIẢI TRÍ từng cách vá sao cho lưới bền, chắc, không “ăn nước”. Bà Thân kể, ngày còn nhỏ, bà theo mẹ ngồi bên lưới từ lúc nào không hay. Lớn lên, lấy chồng, sinh con, nghề đan lưới cứ thế theo bà suốt đời. Đến lượt mình, bà lại truyền nghề cho con gái. “Không dạy thì tụi nó cũng nhìn mà biết. Nghề này quen tay là làm được, nhưng muốn làm đẹp, làm bền thì phải kiên nhẫn” - bà Thân cười hiền. Từ việc chỉ phục vụ cho gia đình, những người phụ nữ giỏi nghề dần nhận làm thêm cho ngư dân trong vùng. Lưới Cồn Sẻ nổi tiếng bởi sự tỉ mỉ, chắc chắn, phù hợp với nhiều loại ngư trường. Tiếng lành đồn xa, lưới từ làng nhỏ ven sông Gianh theo chân tàu cá có mặt ở nhiều địa phương trọng điểm nghề cá trong cả nước. Với nhiều gia đình ở Cồn Sẻ, nghề đan lưới không còn là việc “làm thêm lúc nông nhàn” mà đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng. Chị Mai Thị Quy (SN 1979) từng có thời gian dài sống trong cảnh phập phồng theo từng chuyến biển của chồng. “Biển mà, có khi đi cả tháng trời nhưng về không đủ bù chi phí” - chị Quy nhớ lại. Từ ngày tham gia nghề đan, vá lưới, cuộc sống gia đình chị ổn định hơn. Ngày thường, chị nhận gia công cho các cơ sở sản xuất lưới trong làng; khi tàu cá về nghỉ kỳ trăng, chị lại tất bật vá lưới cho ngư dân. “Những lúc biển động, chồng không ra khơi được, mình vẫn có việc, có tiền lo cho con cái. Nghề này giúp phụ nữ tụi tôi đỡ phụ thuộc hơn” - chị Quy nói. Cuối năm, khi ngư dân trở về đón Giáng sinh và Tết Dương lịch, không khí Cồn Sẻ trở nên nhộn nhịp khác thường. Trên các trục đường chính, những tấm lưới đủ màu sắc được phơi dài vào tận ngõ nhỏ, tạo nên bức tranh làng nghề rực rỡ giữa vùng sông nước. NGHỀ THẦM LẶNG LÀM NÊN NHỮNG CHUYẾN BIỂN LỚN Trong căn nhà chất cao những đùm lưới, bà Nguyễn Thị Hồng (SN 1972) đang tỉ mẩn gắn từng viên chì lên tay lưới. Động tác dứt khoát, chính xác, gần như theo bản năng của người đã gắn bó hàng chục năm với nghề. Không chỉ là một “nghệ nhân” lành nghề, bà Hồng còn là chủ của một trong những cơ sở sản xuất lưới lớn nhất làng. Cơ sở của bà hiện tạo việc làm thường xuyên cho hơn 20 lao động, chưa kể hàng chục hộ khác nhận hàng về gia công tại nhà. Theo bà Hồng, mỗi người đảm nhận một công đoạn: người đan thân lưới, người kết phao, người dập chì. Tùy tay nghề và thời gian, thu nhập dao động từ 150.000 đến 250.000 đồng/người/ngày. So với trước đây, nghề đan lưới đã có sự thay đổi khi thân lưới được máy dệt sẵn. Tuy nhiên, các khâu còn lại vẫn đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm. “Lưới muốn tốt thì từng công đoạn phải ăn khớp với nhau. Làm ẩu một khâu là hỏng cả tay lưới” - bà Hồng nói, giọng dứt khoát. Ở làng chài Cồn Sẻ, phụ nữ không chỉ là người giữ bếp, nuôi con mà còn là “hậu phương” trực tiếp của mỗi chuyến biển. Khi đàn ông ra khơi dài ngày, mọi công việc từ đan, vá lưới, kết phao, dập chì… đều đặt lên vai người vợ, người mẹ. Những đôi tay chai sần ấy đã âm thầm quyết định chất lượng của từng tay lưới, góp phần làm nên thành bại của mỗi chuyến đánh bắt. Nghề đan lưới giúp phụ nữ Cồn Sẻ chủ động hơn về kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào thời tiết biển. Với nhiều gia đình, đây là nguồn thu nhập ổn định trong những ngày biển động, tàu thuyền nằm bờ. Không ít phụ nữ vừa làm nghề, vừa chăm sóc gia đình, nuôi con ăn học, giữ nếp sống làng chài giữa nhịp sống hiện đại. Quan trọng hơn, chính họ là người gìn giữ và trao truyền nghề truyền thống qua nhiều thế hệ, để nghề đan lưới không bị đứt mạch giữa dòng chảy đổi thay của cuộc sống. Theo ông Nguyễn Cương, Trưởng thôn Cồn Sẻ, toàn thôn hiện có 985 hộ với hơn 4.170 nhân khẩu. Phần lớn người dân sống bằng nghề biển, với hơn 270 chiếc tàu cá, trong đó có hơn 100 tàu công suất lớn chuyên vươn khơi xa. Ngoài ra, hơn 600 lao động của làng đang làm việc ở nước ngoài trong lĩnh vực đánh bắt hải sản. “Có thể nói, mỗi chuyến biển bội thu của ngư dân Cồn Sẻ đều có dấu ấn của nghề đan lưới và sự tảo tần của người phụ nữ ở nhà” - ông Cương chia sẻ. H.N Không ồn ào, không phô trương, nghề đan lưới ở Cồn Sẻ vẫn lặng lẽ tồn tại, bền bỉ qua trăm năm. Trong dòng chảy của đời sống hiện đại, khi nhiều làng nghề dần mai một, thì ở nơi này, những đôi tay cần mẫn vẫn ngày ngày giữ lửa cho một nghề gắn với biển, với làng và với bao phận người. Cửa hàng Ích - An ở 42 Hàng Cân hiện vẫn bán giấy dó và tranh Đông Hồ Bà Tâm, chủ cửa hàng cho biết, khách mua tranh Đông Hồ hiện nay chủ yếu là khách du lịch và người nước ngoài Về quê ăn cỗ cưới, không chỉ là đi dự một đám vui mà bước vào một nhịp sống khác. Cưới quê, nơi thời gian không được đo bằng đồng hồ, mà bằng số ngày dựng rạp, số con lợn mổ, số mâm cỗ xếp kín sân nhà. Ở đồng bằng Bắc Bộ như Hải Phòng quê tôi, đám cưới không gói trong một ngày. Nó trải ra ba ngày, như một câu chuyện cần đủ chương hồi mới trọn nghĩa. Ngày đầu dựng rạp, gộp lễ ăn hỏi. Ngày thứ hai là ăn họ (con cái, anh em trong họ). Ngày thứ ba mới chính thức ăn cưới. Ba ngày ấy, ngôi nhà cô dâu không còn là nhà riêng, mà thành nhà chung của họ mạc, làng xóm. Người ra người vào, tiếng nói cười lẫn trong mùi khói bếp, mùi thịt lợn mới mổ còn ấm trên mâm. Mâm cỗ cưới quê không cầu kỳ kiểu nhà hàng, nhưng bao giờ cũng đầy đặn. Giữa mâm là con gà ta hấp, da vàng, thịt chắc, đặt ngay ngắn như một lời chào khách quý. Chung quanh là thịt lợn đủ cách: luộc, xào, nấu đông, nấu măng, canh su hào. Lòng mề, tiết canh bày ra không màu mè, nhưng ai quen rồi thì biết, đó là thứ giữ chân đàn ông ở lại mâm lâu hơn một tuần rượu vơi đầy. Mâm cỗ còn có đĩa thịt bò to tướng xào hành tây, tôm hấp hay tôm tẩm bột… không phải để khoe, mà để “sáng” lên, đủ vị cho già trẻ. Có những nhà, khi con gái đầu lấy chồng, còn mổ cả trâu, cả bò, chia phần cho họ hàng. Của cải ở quê không nằm trong két sắt, mà nằm trên mâm, nơi ai cũng có thể nếm một miếng lộc chung. Rượu quê thì nhất định phải là rượu gạo nếp tự nấu. Mở nắp ra là mùi thơm nồng nàn bốc lên, uống vào cổ họng nóng ran, xuống đến bụng thì ấm. Vài ly thôi, đàn ông mắt sáng hơn, câu chuyện rôm rả; đàn bà má hồng thêm duyên, cười cũng mềm hơn. Rượu quê không để say, mà để người ta bớt khoảng cách với nhau. Và còn có một món, chỉ cần thiếu nó là mâm cỗ bỗng thấy khuyết: nem tươi. Miếng thịt nạc ngon nhất được lấy ngay khi con lợn vừa mổ, thái mỏng, trộn hành, sả, tỏi, ớt, rau thơm, ăn sống. Nhiều khách phương xa lần đầu còn e dè, nhưng đã ăn một miếng rồi thì dễ nghiện. “Nem tươi không ngán, không chán, càng nhai càng ngọt, lại vào rượu đến lạ. Nó mộc mạc như đất, nhưng tinh tế theo cách của làng quê”, anh họ tôi giới thiệu đặc sản quê nhà. Khi cỗ đã vãn, mâm đã dọn, chiều rơi xuống sân gạch, thì đám cưới quê bước sang một phần khác: ca nhạc. Không phải sân khấu rực đèn, mà là những tối vui, anh em họ hàng quây quần bên ấm trà mạn, điếu thuốc lào kêu “sòng sọc” rất quê, rồi bắt đầu hát. Dàn loa dựng trên bục gỗ, micro chuyền tay. Không phân biệt hay – dở, ai thích là lên hát, cả sân ngồi nghe. Những “anh Hai”, “chị Hai”, có khi đã sáu bảy mươi hào hứng hơn cả đám thanh niên. Người cầm micro hát bolero chậm rãi, người run run hát nhạc trẻ nhưng đầy cảm xúc, có câu chênh phô, có đoạn lạc nhịp, mà chẳng ai chê. Ở quê, người ta hát không phải để khoe giọng, mà để khoe một quãng đời đã đi qua. Tiếng hát vang lên giữa đêm quê, lẫn vào mùi trà, mùi thuốc, mùi gió đồng. Đám cưới vì thế không chỉ là chuyện ăn uống linh đình, mà là một cuộc sum họp kéo dài - nơi con người được ăn cùng nhau, uống cùng nhau, rồi hát cùng nhau cho đời thêm ý nghĩa. Ăn cỗ cưới ở quê, là dịp bà con xa gần, làng xóm láng giềng ngồi lại với nhau để hỏi thăm, để nhắc chuyện cũ, để cười ồ lên một câu vô thưởng vô phạt mà ấm cả buổi. Mỗi mâm cỗ là một lát cắt của đời sống nông thôn, nơi ẩm thực không chỉ là món ăn mà nuôi cả ký ức và mối quan hệ cộng đồng. Rồi đám cưới qua đi, rạp được dỡ, sân lại trống. Nhưng dư vị mâm cỗ quê vẫn còn ở lại: trong mùi rượu nếp vương nơi đầu lưỡi, trong miếng nem tươi nhớ mãi, và trong một cảm giác rất khó gọi tên - cảm giác được thuộc về một làng quê, dù chỉ trong vài bữa cỗ. NGUYỄN TUẤN Ăn cưới ở quê SỔ TAY Bà Hồng miệt mài đan lưới từ thời son trẻ Lão ngư Phạm Cầu không còn nhớ đã dùng bao nhiêu tay lưới của vợ đan
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==