Chiến lược phát triển ngành thép 15 n Thứ Ba n Ngày 10/2/2026 KINH TẾ Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 9/2 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược). Chiến lược nhằm phát triển ngành thép theo hướng tập trung vào sản phẩm thép có chất lượng cao phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế; đa dạng về sản phẩm, từng bước chuyển đổi sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường, tận dụng tối đa nguồn nhiên liệu, đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước, tăng nhanh xuất khẩu, tính cạnh tranh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển đổi cơ cấu sản phẩm để từng bước thay thế thép nhập khẩu, đặc biệt là thép hợp kim, thép dụng cụ và các sản phẩm thép đặc biệt cho các ngành chế tạo trong nước. TĂNG TỶ TRỌ NG XUẤ T KHẨ U Theo Chiến lược, đến năm 2030, phấn đấu sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 7-8%/năm, sản lượng đạt khoảng 25-26 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 5,5-6,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 32-33 triệu tấn/năm. Thép tiêu thụ bình quân 270280kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 80-85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu. Tăng dần tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao: Thép hợp kim, thép không gỉ, thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, sản xuất, phương tiện giao thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt), năng lượng. Mục tiêu đến năm 2035, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 6-7%/năm, sản lượng đạt khoảng 33-36 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 4,5-5,5%/ năm, sản lượng đạt khoảng 4043 triệu tấn/năm. Thép tiêu thụ bình quân 340-360kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 8590% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu. Tiếp tục tăng tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao: Thép hợp kim, thép không gỉ, thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, sản xuất, phương tiện giao thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt), năng lượng, thép chế tạo quốc phòngan ninh. Đến năm 2050, sản lượng thép đạt khoảng 75-80 triệu tấn/năm; tiêu thụ bình quân 570-650kg/ người/năm. Chiến lược chỉ rõ, phấn đấu đến năm 2050, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 4-4,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 65-70 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 3,5-4%/năm, sản lượng đạt khoảng 75-80 triệu tấn/năm. Thép tiêu thụ bình quân 570650kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng thép trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu. Sản phẩm của ngành thép tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng của ngành thép thế giới. Về định hướng phát triển, Chiến lược tập trung phát triển các sản phẩm có lợi thế, có nhu cầu sử dụng cao hiện tại trong nước chưa sản xuất được; chú trọng đầu tư vào các dự án sản xuất thép công nghệ tiên tiến, hiện đại, sản xuất thép xanh, thép hợp kim, thép cho ngành chế tạo, các sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, có đủ khả năng tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời tăng nhanh hàm lượng khoa học, công nghệ nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn quốc tế. Phân bố không gian sản xuất ngành thép một cách hợp lý dựa trên lợi thế về địa lý, tập trung đầu tư các dự án có quy mô lớn tại các địa phương có cảng nước sâu nhằm phát huy hết lợi thế về không gian, hạ tầng, địa điểm có nguồn năng lượng tái tạo và nguồn lực sản xuất; đẩy mạnh mối liên kết trong chuỗi giá trị từ nghiên cứu, cung cấp nguyên liệu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRONG NƯỚC Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, Chiến lược cũng đề ra các nhiệm vụ giải pháp về cơ chế, chính sách; thị trường tiêu thụ sản phẩm; khoa học công nghệ; nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và một số giải pháp cụ thể theo nhóm sản phẩm thép như: Tiếp tục đầu tư công nghệ, thiết bị nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng đối với nhóm sản phẩm thép trong việc phát triển nền kinh tế; thép phục vụ xây dựng, thép hợp kim, thép chế tạo, thép hình, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu, ống thép, thép cán nóng để ổn định tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực, thép dùng trong bê tông cốt thép ứng suất trước, thép không gỉ chống ăn mòn dùng cho các công trình biển đảo, thép siêu nhẹ sử dụng cho các thiết bị trong ngành giao thông vận tải; thép nhẹ cán nguội, thép ngành đóng tàu. Nghiên cứu sản xuất thép phục vụ nhu cầu vật liệu thép cho xây dựng hạ tầng năng lượng, thép thanh ray cho phát triển đường sắt cao tốc, thép ống đúc để vận chuyển khí hóa lỏng, ống thép không hàn cho đóng tàu, trụ điện gió, thép chế tạo trong quốc phòng-an ninh. P.V (theo Vietnam+) Chiến lược phát triển mới đặt mục tiêu tăng sản lượng thép, chuyển dịch sang sản phẩm giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường, đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước và thúc đẩy xuất khẩu bền vững. Một doanh nghiệp sản xuất thép trong nước ẢNH: VIETNAM+ Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn, Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu, Tập đoàn Vàng bạc đá quý Phú Quý, Tập đoàn Doji cùng niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 176,3 - 179,3 triệu đồng/ lượng mua vào - bán ra, tăng 7,3 triệu đồng/lượng trong vòng 1 tuần qua. Giá vàng nhẫn cũng tăng cao trong vòng 1 tuần. Theo đó, vàng nhẫn Phú Quý niêm yết 176 - 179 triệu đồng/ lượng; vàng nhẫn Bảo Tín Minh Châu niêm yết 176,3 - 179,3 triệu đồng/lượng, bằng giá vàng miếng SJC… Cùng thời điểm, giá vàng thế giới niêm yết 5.039 USD/ounce, tăng 99 USD so với sáng 8/2. Giá vàng trong nước được dự báo tăng từ 1-2 triệu đồng/lượng theo đà tăng của thế giới và nhu cầu mua vàng cuối năm của người dân. Hiện, nguồn cung vàng trong nước vẫn hạn chế do các đơn vị vẫn chưa chính thức nhập vàng. Trên thị trường bạc diễn biến trái chiều khi giảm mạnh trong 1 tuần qua. Theo đó, bạc Phú Quý niêm yết 2,8 - 2,9 triệu đồng/lượng, tương đương 79 triệu đồng/kg, giảm 8 triệu đồng/kg so với cách đây 1 tuần. Bạc Ancarat niêm yết 78 triệu đồng/kg. Hiện, giá bạc thế giới ở mốc 79 USD/ounce. Ở thị trường tiền tệ, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.065 đồng/USD; Vietcombank niêm yết ở mức 25.760 - 26.150 đồng/ USD (mua - bán). NGỌ C MAI Sáng 9/2, giá vàng thế giới tăng mạnh lên trên 5.000 USD/ounce. Theo đó, sau khi mở cửa phiên giao dịch buổ i sáng, dự kiến giá vàng trong nước sẽ tăng cao. Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đưa ra các định hướng cụ thể về: sản phẩm ưu tiên; nguồn nguyên liệu; nguồn năng lượng phục vụ sản xuất; phát triển các doanh nghiệp ngành thép; thị trường tiêu thụ thép trong nước và xuất, nhập khẩu; công nghệ; phân bố không gian. Vì sao tàu hỏa chưa chuyển đổi nhiên liệu xanh? Theo Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR), toàn ngành vẫn đang vận hành chủ yếu bằng đầu máy diesel, đặc biệt trên mạng lưới đường sắt hiện hữu khổ 1.000 mm. Nhiều năm qua quá trình chuyển đổi nhiên liệu xanh trong ngành đường sắt đã được khởi động. Minh chứng là năm 2025, VNR ghi nhận mức tiêu hao nhiên liệu thấp hơn định mức gần 770.000 lít nhờ việc tối ưu hóa nhiên liệu và cải tiến công nghệ. Theo ông Bùi Văn Sáng - Phó trưởng Ban Đầu máy toa xe VNR, trong giai đoạn trước mắt, nhiên liệu sinh học được xem là giải pháp khả thi nhất, để thay thế nhiên liệu hóa thạch. Các đầu máy diesel đã được thử nghiệm sử dụng nhiên liệu sinh học B5 trên một số tuyến, phối hợp với các đối tác trong và ngoài nước. Kết quả bước đầu cho thấy khí thải ra môi trường đã được cải thiện, trong khi không đòi hỏi thay đổi quá lớn về hạ tầng hay kết cấu đầu máy... Bên cạnh đó, ngành Đường sắt cũng đang nghiên cứu giải pháp bổ sung hydro vào đường khí nạp của động cơ diesel - một hướng tiếp cận trung gian nhằm giảm phát thải nhưng vẫn tận dụng được đội đầu máy hiện có. Đây được xem là bước đệm quan trọng trước khi chuyển sang các công nghệ năng lượng xanh triệt để hơn. Về dài hạn, hydro được đánh giá là giải pháp then chốt để giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Bởi công nghệ hydro đặc biệt phù hợp với đầu máy dồn dịch và các quãng đường ngắn, nơi yêu cầu công suất không quá lớn. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cao và yêu cầu công nghệ phức tạp đang là rào cản lớn. Trong khi đó, công nghệ pin lithium - phổ biến trên thế giới - lại gặp khó trong việc chuyển đổi nhiên liệu đường sắt tại Việt Nam do tải trọng trục thấp, tuổi thọ pin ngắn và thiếu hạ tầng trạm sạc. Khí nén LNG cũng được xem xét như một lựa chọn nhiên liệu thay thế, song điều kiện hạ tầng, an toàn vận hành và đặc thù khổ đường 1.000 mm khiến giải pháp này khó triển khai trên diện rộng trong ngắn hạn. Những thách thức này cho thấy chuyển đổi nhiên liệu xanh cho đường sắt không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà còn là vấn đề quy hoạch hạ tầng, cơ chế chính sách và nguồn lực đầu tư. LỘ C LIÊN Giá vàng tăng không ngừng Giá vàng nhẫn củ a nhiều đơn vị ngang giá vàng miếng SJC
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==