Và nhà văn Y Ban kể: Tôi sinh năm 1961, cái thời đất nước đang chiến tranh nhưng hào hùng - như thơ văn sách báo đã nhắc: “Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng…” (thơ Tố Hữu). Còn với riêng tôi, thì là những cuộc sơ tán về làng. Bố tôi thời điểm này là một y tá. Ông chủng đậu (tiêm chủng vắc-xin phòng bệnh đậu mùa) cho tôi vào mắt cá chân, khác với mọi người đều tiêm vào bắp vai. Vì ông bảo con gái mà để hở cánh tay lại bị cái vết sẹo chủng đậu to như đồng xu thì xấu lắm. Ông hy vọng cô con gái của mình lớn lên sẽ xinh đẹp và dịu dàng. Tôi tốt nghiệp phổ thông, học đại học ngành sinh học, theo nghề y, nhưng rồi lại bỏ hết để theo nghiệp văn chương. Ông sốc và buồn lắm vì không thể ngăn cản được. Ông nói với tôi “Nhà tao năm đời nhưng chả ai lại theo nghề mõ như mày. Bố đã cho mày theo học một ngành rất là tử tế, thế mà cuối cùng mày lại thành mõ ư con?”. Tức là trong con mắt ông, văn chương chỉ là một cái thứ mõ thôi. Sau này, tôi hiểu ông hơn, thì biết không hẳn như lời than vãn của ông mà bởi ông lo lắng cho con gái, nên ông đay nghiến về quyết định, lựa chọn của con. Vì theo đuổi văn chương thì nó rất mù mịt tương lai, con đường sự nghiệp không biết sẽ đi đến đâu. Trong khi, con gái ông đang là một giảng viên trường y – vào thời điểm đấy rất là danh giá mà tương lai được đảm bảo, nhìn và thậm chí sờ thấy được. Bố mẹ tôi lấy nhau khi cùng làm việc cho Bệnh xá thị trấn Nghĩa Hưng (huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cũ), sống ở khu tập thể tại đây. Đến năm 1965, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, tôi bắt đầu hành trình sơ tán về làng xã, cùng bố mẹ ở nhờ hết nhà này đến nhà khác, vì tôi bé quá. Tôi nhớ nhất là nhà tôi được ở nhờ cả một ngôi nhà to của cô chú Am xã Nghĩa Thái do cô chú đi buôn bán ở trên rừng. Tôi gọi là “ngôi nhà ở nhờ hạnh phúc”, vì từ đây, từ ngôi làng này, đã hình thành nên những cảm xúc, những câu chuyện riêng ấu thơ của tôi. Căn nhà rất rộng, có cái thềm nhiều bậc rất cao. Và đêm, bố tôi tháo cánh cửa lùa, ngồi trên bậc thềm kể cho tôi chuyện cổ tích, những câu chuyện cổ tích đầu đời của tôi. Bệnh xá mẹ tôi làm cách nhà tôi ở chừng một cây số thôi, nên là buổi trưa nào mẹ cũng về để nấu cơm. Tuổi đấy, tóc tôi rất dài. Ăn trưa xong, mẹ bới tóc bắt chấy cho tôi, thế là tôi ngủ thiếp đi lúc nào cũng không biết, chìm vào trong những giấc mơ. Và luôn tỉnh dậy khi đang mơ và do những chuyện xảy ra trong mơ mà tỉnh dậy. Chuyện đi học thì cũng mang tính chất “sơ tán” lỗ mỗ tạm bợ không ổn định dù các bạn cùng lớp đều là người cùng làng, đông và vui lắm. Tôi đi học ở một làng sơ tán đấy, vào lớp vỡ lòng lúc 5 tuổi. Vì bố tôi bảo: “Con gái phát triển sinh lý sớm hơn con trai, cho nó đi học muộn thì đến tuổi mười sáu, mười bảy yêu đương, không đi học lên được nữa”. Cô giáo đầu đời của tôi hiền lắm, nhưng bị gù - cô Tiên “gù”. Không, không bao giờ cô xấu cả. Tôi còn nhỏ nhưng bị ám ảnh, làm phụ nữ như cha mẹ tôi hay nói rằng đã khổ rồi – vậy mà cô giáo tôi còn bị tật nguyền. Tôi lang thang trong làng, thì ngoài bậc thềm trong ngôi nhà chú Am, tôi thấy thêm gác chuông và tháp nhà thờ, lớp học của tôi thì ở trong đình làng, cùng những cánh đồng lúa bát ngát ở vùng quê ấy đẹp vô cùng. Vào những ngày mưa, tôi cứ ngồi ngoài thềm cho mưa hắt ướt đẫm người, tôi gào lên khóc cười không dứt. Cái sân lát gạch thường để phơi thóc nay những bong bóng nước đuổi nhau trên mặt sân như trong ca dao: “Giời mưa bong bóng phập phồng…” làm thành nỗi buồn đầu đời ngân vọng trong tôi. Rồi mặt sân gạch lại đỏ như son khi mưa tạnh. Tôi còn phi ra đường, đi một mình lang thang hết chỗ này đến chỗ khác, cỏ cây mọc dại xen giữa những phiến đá được xếp thành con đường làng và những tàu lá chuối ven đường sau mưa như được tắm gội, nhất là khi nắng lên thì cỏ cây nhất loạt trỗi dậy, lá chuối ánh lên bóng loáng một màu xanh tươi mới như đang cười. Rồi tôi ra lội ruộng. Tôi gào lên vừa cười vừa khóc. Từ nhỏ, tôi đã là người thích đọc, ham đọc. Từ văn chương, tôi đọc thơ ông Nguyễn Bính, có câu “Bắt đầu là cái thắt lưng xanh…” (Mùa xuân xanh) thì hiểu nó như thế nào? Tôi thấy với tôi, đó là tầm nhìn, tầm nhìn cánh đồng quê vào ngày mồng 1 Tết. Bởi vào ngày mồng 1 Tết, mẹ dạy không được đi đến nhà ai cả. Vì là con gái mày đi xông đất nhà người ta thì người ta chửi cho. Thế là một mình tôi đi ra ngoài cánh đồng. Cả một cánh đồng quê ngày xuân bát ngát màu xanh lúa non, đẹp vô cùng, tầm nhìn của mắt duỗi thẳng không bị che chắn bởi lũy tre làng, xa tít đến tận chân trời. Rồi một đoàn người mặc áo đẹp đi từ xa đến gần, nói chuyện râm ran, chào hỏi nhau…, nắng bắt đầu hoe hoe, và cái dải “thắt lưng xanh” hiện rõ dần. Tuổi thơ tôi đã ngấm được những gì của giời đất ở một ngôi làng ban cho. Trong “Bức thư gửi mẹ Âu Cơ”, tôi đã lồng vào cái ký ức của tuổi thơ bằng đoạn: “Ai dạy mày như thế? Trời đấy. Đất đấy. Những câu chuyện cổ tích của cha, những câu chuyện luân thường đạo lý và cả những lời răn dạy của mẹ”. Đất đấy, thiên nhiên đấy, màu vàng của lúa, màu xanh của mạ của cây cối, miền quê con sông ấy đã kiến tạo nên tâm hồn con, để con biết khóc trong tiếng mưa, biết cười trong nắng, biết múa hát trong tiếng cây cỏ trỗi dậy sau trận mưa rào. Năm 1970 thì bố tôi - một người đàn ông rất là lãng mạn - nói bây giờ vì tương lai con gái, nên lên thành phố học hành thì tốt hơn. Thế là nhà tôi chuyển từ Nghĩa Hưng lên thành phố Nam Định. Cuối năm 1972 khi mà miền Bắc hết “bom rơi, đạn nổ”, nhà tôi có tiêu chuẩn do bố tôi đi chiến trường, được phân về ở khu tập thể bệnh viện thành phố, không phải đi ở nhờ hay thuê nữa. Bên cạnh nhà tôi là gian phòng của một ông bác sĩ. Ông có một tủ sách để ở đầu giường, cao và dài, chứa rất nhiều sách. Ông ấy quý sách không cho ai động vào nhưng ông ấy lại rất quý tôi. Và bắt đầu tôi được thâm nhập vào tủ sách của ông ấy, chỉ đọc ngay đấy không được mang về. Ôi trời ơi, “Đi-tê con của người đời” (Martin Andersen Nexø) này, rồi là “Tấm lòng vàng” (Nguyễn Công Hoan) này, rồi là Victor Hugo này, rồi “Anna Karenina” (Lev Tolstoy), “Thép đã tôi thế đấy” (Nikolai Ostrovsky), “Dấu chân người lính” (Nguyễn Minh Châu)... Kiến tạo phần viết trong tâm hồn tôi là cái tủ sách của ông bác sĩ. Nó mở ra một cái thế giới đẹp khủng khiếp luôn. Nhưng cạnh đó, tham gia kiến tạo nên tâm hồn tôi còn là tất cả những loại sách rơi vào tay tôi, ví dụ như “Đồi thông hai mộ”, “Vụ án thành Paris”... được chuyển bí mật từ cặp sách đứa nọ sang cặp sách đứa kia… n NHÀ VĂN Y BAN HẸN TÔI Ở MỘT QUÁN CÀ PHÊ VEN SÔNG HỒNG GẦN NHÀ CHỊ. ĐÚNG GIỜ, CHỊ PHI XE MÁY ĐẾN. CHỊ ĐỘI CHIẾC MŨ VẢI RẰN RI, ĐEO KÍNH RÂM, MẶC QUẦN JEANS VÀ ĐI MỘT ĐÔI GIÀY DA LỘN MÀU CỎ ÚA. CHỦ QUÁN HỎI CHỊ UỐNG GÌ, CHỊ ĐÁP “NHƯ MỌI KHI”. TÔI HỎ I: “CHỊ ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG CÙNG NGHỀ VIẾT NHƯ THẾ NÀO, AI ĐÃ DẠY CHỊ VIẾT VĂN, THƯA CHỊ?” VĂN HÓA 7 Nhà văn Y Ban (trá i) tạ i quán cà phê ven sông Hồng TIẾNG NÓI NỮ QUYỀN TRONG CÁC TÁC PHẨM CỦA Y BAN “Dưới góc nhìn xã hội học, tiếng nói nữ quyền trong văn chương của Y Ban nằm ở chỗ chị buộc xã hội phải đối diện một câu hỏi rất căn bản: vì sao cùng là con người, cùng có ham muốn, khát vọng và năng lực sống, nhưng phụ nữ và nam giới lại bị đánh giá qua những hệ giá trị hoàn toàn khác nhau?”, TS Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS), nó i. Ham muốn của đàn ông được xem là biểu hiện của bản lĩnh, của nam tính. Bất chấp ngoại hình ra sao hay đạo đức thế nào, đàn ông vẫn “được quà”: được lựa chọn, được bao dung, được xã hội thừa nhận. Ngược lại, khi phụ nữ ý thức được và theo đuổi ham muốn, họ lập tức bị đặt vào vị thế phải biện minh, phải xấu hổ, thậm chí bị kết án về mặt đạo đức: đàn bà ham muốn thì bị coi là đàn bà hư. Các tác phẩm như I am đàn bà, Người đàn bà có ma lực, Đàn bà xấu thì không có quà hay Bức thư gửi mẹ Âu Cơ không nhằm cổ súy cho sự buông thả, mà phơi bày cơ chế đạo đức hóa và vật thể hóa phụ nữ. Thân thể nữ bị giám sát, ham muốn nữ bị kiểm soát, còn giá trị của phụ nữ thì bị quy đổi chủ yếu qua ngoại hình và sức hấp dẫn, trong khi trí tuệ, tài năng và đời sống tinh thần dễ dàng bị gạt ra bên lề. “Y Ban không viết để gây sốc, mà để chỉ ra một bất công mang tính cấu trúc trong quan hệ giới: phụ nữ không chỉ bị trừng phạt vì ham muốn, mà còn vì dám coi ham muốn của mình là chính đáng”, TS Hồ ng nhậ n xé t. Trong khi đó , Tiến sĩ Xã hội học Nguyễn Thị Thu Hoài, giảng viên Khoa Công tác xã hội - Học viện Phụ nữ Việt Nam, nhậ n định: “Chị Y Ban đã ‘cho’ phụ nữ trong các tác phẩm của chị rất nhiều quyền, quyền được ‘chạm’ đến những vùng mà người ta cho là cấm kỵ như dục vọng, nhu cầu tình dục của phụ nữ, quyền được mệt mỏi, được khó chịu và quyền được là người phụ nữ không hoàn hảo… Nói theo lời lẽ chuyên môn: Đóng góp lớn nhất của chị Y Ban là đã mở rộng không gian diễn ngôn cho phụ nữ”. “Ai dạy chị viết văn, thưa nhà văn Y Ban?” 7-8/2/2026 www.tienphong.vn NGUYỄN QUỐC - TRẦN BÌNH
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==