Không cần chờ đến Nguyên đán, với các cụ già trong làng tôi, Tết trọn vẹn ý nghĩa trong một đêm trừ tịch. Khi ấy trời đất lặng câm, chỉ có lòng người với những mong muốn nguyện cầu có thể cảm thấu, giao hòa tâm thức với mười hai vị thần để dâng tấu sớ Ngọc Hoàng mong đấng tối cao bỏ qua cho những lỗi lầm năm cũ, mong được xóa bỏ mọi ẩn khuất, phiền lòng, mong được đón năm mưa thuận gió hòa, gia đạo bình an, phúc lộc tràn đầy. Vì lẽ đó, mà công cuộc chuẩn bị cho đêm ba mươi trở thành sự kiện lớn nhất năm của cả dòng họ. Ba tôi, chủ tịch hội đồng gia tộc, có nhiệm vụ bắt đầu cho cái lễ trừ tịch hằng năm ấy bằng nhiều đêm trước đó. “Không quá cầu kỳ nhưng là lễ thì phải đúng nghi thức và trang trọng”. Ông luôn mở đầu cuộc họp như thế. Tôi là gái, chẳng tham gia những cuộc họp ấy bao giờ nhưng giọng ông dõng dạc, điềm tĩnh, chậm rãi và có phần chắc nịch hơn bình thường nên lọt vào tai tôi kể cả lúc đó tôi đang soạn bài hay đang sắp xếp đồ đạc cho ngày mai. Thường những cuộc họp khai mạc như thế diễn ra ở nhà tôi để tiện trà nước. Cho đến khi ba tôi ngồi xuống ghế vì đôi chân viêm khớp cấp không chịu nổi, thì giọng nói của ông dường như trầm đục hơn một chút chứ không khí trầm mặc vẫn y như vậy. “Thủ tục thì gần như không thay đổi, vẫn là biện mâm ngũ quả, xôi gà, vài ba mâm lễ mặn gia tiên. Thứ nữa là bản báo cáo dâng tổ tiên, rồi sắp xếp đội hình cúng lễ”. Có bao nhiêu đấy thôi mà nếu không họp từ những tháng mười, mười một, các cụ sợ chẳng kịp thời gian chuẩn bị. Và cũng vì thế, cuộc họp thường vắng đôi người hoặc xin đến muộn “em cố gieo nốt phần thóc đã vớt ra nên đến tận bây giờ mới xong việc. Còn chưa kịp cơm nước gì sợ các bác mong. Tí chắc em phải xin về sớm, con lợn đang quay ổ”. Bắt đầu vào phân công công việc, giọng bác trưởng tộc cất lên. Năm nay không lấy nhà mự Liên, nhà đấy đang có tang, dẫu không phải là ruột thịt nhưng tính đi tính lại vẫn không nên. Có cái giật mình như chợt nhớ ra, lại có tiếng thở dài tiếc nuối. Bao năm vẫn nhờ mự biện cỗ cúng, người đâu vừa đảm đang, vừa khéo léo, tính cẩn thận sạch sẽ, nhà lại ngay cạnh bên. Thôi việc đấy tính sau, ngày đến đó còn dài. Vài người nữa lên tiếng. Cũng là sự gợi nhắc cho báo cáo tổng kết năm, không phải cầu kỳ chữ nghĩa mà cần nhiều thông tin. Phải biết nhà nào thêm dâu, thêm cháu, nhà nào có người đã khuất núi, ra đi. Đây thường là công việc của Rằm tháng Giêng, giỗ họ nhưng ngay đêm ba mươi cũng phải biết số lượng để đưa vào văn khấn xin thần linh, tổ tiên gia hộ. Lời cầu xin trong đêm trừ tịch, nó có sự long trọng, thiêng liêng riêng mà không thời khắc nào có được. Số liệu đó cần chính xác hơn trong những năm cần chỉnh lý gia phả. Phần việc tốn nhiều thời gian và chúng tôi chờ đợi, hóng hớt nhất là phân công người trong đội nghi lễ. Vẫn là người đọc văn, người đánh trống to, trống nhỏ, người rót rượu, người châm hương và những người khác quỳ lạy dâng lễ. Năm nào vì việc này mà cuộc họp cũng to tiếng. Không hẳn là cãi nhau chỉ là các bác ngày càng có tuổi, đầu óc chậm hơn, tai mắt nghễnh ngãng, mà khi cố nói to thì mặt cũng đỏ ửng lên, chân tay muốn phụ họa theo. Những người quen đầu sóng ngọn gió đã lên tiếng là chẳng ai dừng được. Việc này, đến người ngoài cuộc như tôi nhìn vào cũng thấy khó. Hơn hết là sự xót xa. Một năm thôi mà sao các bác trong họ tôi xuống sức nhanh thế, có người cầm ly nước lên uống tay còn run run, những mái tóc từ muối tiêu sang bạc trắng. Ai nói quay đầu là hết ngày, ngoảnh mặt là hết năm, chỉ thấy thời gian vần vò trên những cơ thể vốn đã khô khốc, héo úa đi của các bác tôi. Lại có những người tim gan, mật phổi muốn đình công, bước được một bước thong dong thôi cũng khó huống chi là trong đôi guốc mộc, áo the, vòng chéo chân như nét vẽ khi hành lễ. Điểm qua, năm nào trong đội nghi lễ cũng thiếu đi mấy người, không vì ốm đau thì lại đi làm ăn xa. Anh con bác tôi, là nhân sự cứng với những cú ra tay vang, rền, đúng nhịp, là truyền nhân của bác trống cả thì cũng đã đi xuất khẩu lao động. Anh vì tiếc tiền, vì không muốn phải ký lại hợp đồng, muốn lao động chui cho đỡ tiền thuế mà không nỡ bỏ công về quê ăn Tết. Đó là chưa kể công việc cần phải may đo lại quần khăn áo mũ, căng mặt trống lớn thì phải mất thêm hàng tháng mới xong việc. Mẹ tôi thường chọn những lúc như thế mang ấm trà từ trong nhà ra vừa làm dịu tình hình vừa nghe ngóng xem mọi người có chuyển chủ đề không. Năm nào cũng thế, khi họ mạc tập trung đông đủ, mẹ tôi đều tưởng tượng ra cảnh người ta sẽ thảo luận tìm người thay thế ba tôi. Thật ra mẹ cũng đã bóng gió chuyện này trong những lần gặp riêng trước đó. Bởi vì, cái danh Chủ tịch Hội đồng gia tộc không phải do cha truyền con nối như Trưởng tộc mà cần người nhanh nhẹn, tâm huyết, có sức đoàn kết mà chọn ra để làm công việc chung. Thường xuyên phải nhìn khuôn mặt ba nhăn nhúm khi lên cơn đau, cả người đỏ ửng khi cố nuốt đống thuốc tây qua cái cổ đã khô nước bọt; và những đêm, nếu ông không ngâm chân trong gừng và lá lốt thì chẳng thể ngủ, bà có quyền được lo lắng và mong muốn điều đó. Hai mươi năm ba làm công việc này thì có đến mười năm mẹ chờ đợi. Chờ đến lúc xây xong công trình nhà thờ họ, công trình có đến ba dãy nhà sàn với hàng trăm cây cột lim táu, với cánh cổng chạm khắc nghê nằm, hổ phục, với hàng chục câu đối chữ Nho được đem ra bàn thảo. Đến việc bay từ Nam ra Bắc nhận tiền cúng tiến cũng là do ông đi. Mẹ tôi thường nhắc ba: là người ta nói khéo để mời mình đi chơi chứ gửi một tỷ hay mười tỷ cũng chỉ là cái trượt tay. Bà lo cũng chẳng sai. Có phải đi một đôi ngày rồi về, có khi ba tôi đi cả tuần, mẹ chẳng tiếc công nhưng nghĩ người ta tiếp đón phiền hà, mình mang nợ. Nhắc nhiều, ba bảo mẹ chờ ông lo xong công trình khu lăng mộ cho đại tộc. Đời mình cố thì con cháu đỡ khổ. Cả một quả đồi hàng nghìn m2 trên núi cao, quy hoạch hàng trăm ngôi mộ đá hoa cương nguyên khối, thi công trong mùa đông lạnh giá, thiếu nhân công đến mùa hè lại khắc nghiệt vì thiếu nước. Mỗi công trình đi qua, để lại trên đầu ba tôi là mớ tóc bạc và bước chân ngày càng nặng hơn do bệnh viêm đa khớp. Chẳng cản nổi thì phải ủng hộ. Chúng tôi, còn được mẹ nhắc phụ giúp ba trong việc cập nhật tiền ủng hộ, đóng góp để công khai vào cuối mỗi ngày. Những việc này cũng được đưa vào báo cáo năm. Những đêm sau đó chính là không gian nhà thờ sáng đèn. Tất cả đội nghi lễ phải tập đi tập lại. Phần vì một số thành viên trong đó thay đổi, phần vì làm ấm nhà thờ, phần để dạy cho thế hệ kế cận “chúng tao chẳng làm được mãi”. Chẳng phải lo xa, đã có chú trong họ, giữa tiếng trống, tiếng gõ, tiếng phách, lại cả lời điếu âm u, khi dâng chén đánh vỡ cả rượu ra nền. Theo các cụ, lễ đêm ba mươi chẳng được sai một ly một lai bởi đó là dấu hiệu của quở phạt. Tôi không biết, trong giờ khắc ấy, tổ tiên gia tộc chúng tôi có đang ngồi trên cao chờ con cháu dâng lễ hay vội vàng chen chân đi báo cáo Ngọc Hoàng, xin phù trì, gia độ cho chúng tôi? Nhưng nếu được, tôi ước họ ở lại, nhận lấy thành tâm thành ý này, để con cháu sau một năm bôn ba, cố gắng được giải bày nỗi lòng, được trút bỏ niềm riêng. Trong ánh đèn sáng tỏ, trong tiếng trống dập dồn, những mái đầu bạc trắng, điểm xuyết muối tiêu hay còn đen xanh thăm thẳm đều cúi rạp xuống theo hiệu lệnh người chủ sự. Tôi thấy ở đó là khoảnh khắc nhưng đó cũng chính là hành trình của thời gian. Ngoảnh mặt, quay đi mọi thứ đã là năm cũ. Tôi thấy ở đó cả một đời người, trong thế gian chúng sinh bình đẳng, rằng ai cũng có quyền mong cầu và ai cũng được bắt đầu. Bước chân vào đây là năm cũ, bước ra khỏi đây là năm mới, một con người mới và lòng người nhẹ tênh. Trời lạnh căm căm, những áo the khăn vấn, vừa bước như múa trên tấm chiếu trải giữa nhà giờ lại khoan thai đĩnh đạc trên con đê làng như nét chạm cuối cùng hoàn thành bức tranh một năm. Họ sẽ đến nhà thủ chỉ làng, dâng nén hương lên gia tiên và nói lời chúc thọ. Họ trở thành cầu nối giữa thế gian, là nét hồn làng đêm trừ tịch. n 7-8/2/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC MINH HỌA: VŨ XUÂN TIẾN Nguyện cầu DƯƠNG THU PHƯƠNG
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==