Báo Tiền Phong số 31-32

Hà Nội những ngày tháng Chạp. Cái rét ngọt như ướp vào người. Trong dòng người hối hả ngược xuôi trên đường Âu Cơ – Hà Nội, tôi gặp lão Chiêm – một “pho sử sống” của làng đào Nhật Tân cũ – đang đứng lặng người nhìn dãy nhà cao tầng sừng sững mọc lên ngay trên mảnh đất mà cách đây mười năm, lão vẫn lom khom tuốt lá đào. Áo bông sờn vai, đôi bàn tay sần sùi như vỏ gốc đào già, lão là người của thế hệ nghệ nhân chứng kiến cuộc “đại di cư” có lẽ là lớn nhất trong lịch sử của cây hoa đào – một biểu tượng Tết Việt. Với hơn 40 năm thăng trầm cùng gốc đào, nói một cách hình tượng – ông lão là người canh giữ nhịp thở của mùa Xuân. Nhưng mùa Xuân vẫn đến, mà nỗi lo của lão đang đi cùng hàng vạn gốc đào ở dải đất ven sông Hồng này. Âm thầm một cuộc lưu vong của sắc đào giữa cơn lốc đô thị hóa. Nhớ về thời hoàng kim, mắt lão Chiêm rực sáng. Cái thời mà từ Nhật Tân xuống Quảng Bá, Phú Thượng là một dải lụa hồng rực rỡ mỗi độ xuân về. “Ngày đó, đất ở đây quý lắm, nhưng quý là vì cái màu mỡ của phù sa sông Hồng, vì cái duyên của thổ nhưỡng khiến hoa đào bích cứ nở là thắm rực, cánh dày, nhị vàng óng ả mà không nơi nào bì kịp”, lão kể, giọng khàn khói thuốc. Nhưng rồi, những con đường trải nhựa phẳng lì, những khu đô thị kiểu mẫu với kiến trúc phương Tây bắt đầu lấn át những bờ xôi ruộng mật. Khi giá đất tính bằng “vàng ròng” trên mỗi mét vuông, việc để một gốc đào chiếm chỗ suốt 365 ngày chỉ để thu về vài triệu đồng vào dịp Tết trở thành một sự lãng phí dưới góc nhìn kinh tế học? Và rồi những người nông dân vốn chỉ quen với việc nhìn trời, nhìn đất để đoán định nụ hoa, nay bỗng chốc cầm trong tay khoản tiền đền bù lớn. Lúc này lại nói chuyện sắc hoa ư, chuyện vẻ đẹp tâm hồn ư? Nhiều người giải nghệ, nhưng lão Chiêm thì không. Lão gàn lắm: “Cái nghề này nó ngấm vào máu rồi, bỏ cây đào là bỏ cái mạng mình”. Các làng đào truyền thống có biến mất cũng không có nghĩa là hoa đào biến mất. Cũng như con người, nó dịch chuyển. Khi đất Nhật Tân hẹp dần, những người như lão Chiêm đã phải lặn lội sang Đông Anh, Gia Lâm, rồi xuống tận Văn Giang (Hưng Yên) để thuê đất. Văn Giang – từ một vùng quê thuần nông – đã nhanh chóng biến thành "thủ phủ" hoa cây cảnh mới của miền Bắc. Với lợi thế quỹ đất rộng và hệ thống giao thông thuận tiện, đào Văn Giang được sản xuất theo quy mô công nghiệp, đáp ứng nhu cầu khổng lồ của thị trường miền Bắc và cả miền Nam. Đào còn ngược ngàn. Đưa đào bích, đào phai Nhật Tân được đưa lên ghép vào gốc đào rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Lạng Sơn, Lào Cai. Ông lão dày dạn nếm trải giải thích: “Gốc đào rừng nó khỏe, nó chịu được sương gió khắc nghiệt, còn mắt đào mình là cái hồn cốt tinh tế. Ghép hai thứ đó lại, ta có một cây đào vừa mang dáng núi, vừa vẫn giữ sắc hoa kinh kỳ”. Tôi thì thoáng lãng mạn hóa, rằng đây không chỉ là chuyện địa lý mà còn là sự giao thoa văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược. Nhưng ông lão chép miệng, là nói vậy thôi, chứ cái tạng của cành, cái sắc của hoa, nó cũng chỉ “na ná”… Rồi còn đào… lưu ký. Do đất đào cứ hẹp dần, các lứa đào không còn đủ dư mà kịp già, kịp tạo thế. Người làng đào lại “nảy số”. Sau Tết, thay vì vứt bỏ, những gốc đào quý được vận chuyển ra các khu vườn ở ngoại thành như Sóc Sơn hay Phúc Yên để chăm sóc. Tại đây, khí hậu thoáng đãng và đất đai rộng rãi giúp cây phục hồi nhanh hơn, chờ mùa Tết tiếp nối. Cuộc di cư của cây đào không chỉ chịu tác động từ quy hoạch mà còn từ chính sự biến đổi của thị trường. Nhiều người hiện nay không chỉ cần một cành đào đón Tết, họ cần một “tác phẩm nghệ thuật” thể hiện đẳng cấp và gu thẩm mỹ. Theo lão Chiêm, thị trường hiện nay phân hóa rõ rệt. Một bên là dòng đào cành giá rẻ, sản xuất hàng loạt từ các vùng đất mới, phục vụ nhu cầu bình dân. Một bên là dòng đào thế, đào cổ thụ có giá từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng. Sự xuất hiện của các loại hoa nhập khẩu như Thanh Liễu, Tuyết Mai hay Mai Mỹ cũng tạo áp lực lớn. “Hoa ngoại nó đẹp kiểu công nghiệp, tươi lâu, nhưng nó thiếu cái vị Tết”, ông lão vẻ ngoài cục mịch hóa ra cực sành. Những nghệ nhân già đời như lão cũng phải theo thời. Không chỉ “trông trời, trông đất, trông mây”, lão giờ đây cũng đã biết một vài công nghệ. Nhưng, theo lão, cây đào cổ truyền rất khó tính “dùng thuốc để kích, không cẩn thận là đi toi cả cây!”. Một số “võ” với cả cái việc tham gia vào các hội nhóm trên mạng xã hội để quảng bá sản phẩm, theo lão là “tôi thua”. Trở lại chuyện cây đào dịch chuyển địa bàn, chất hoa nói vậy cũng phôi pha. Lão Chiêm ngậm ngùi: “Đất Văn Giang hay đất Đông Anh dù tốt đến đâu cũng không có cái chất phù sa mịn màng như bãi sông Hồng. Hoa ở đó có thể to, nhưng cái sắc hồng không được sâu, cái cánh hoa không có độ mịn như nhung”. Đó có phải là cái giá phải đổi khi độ đằm của văn hóa phải nhường chỗ cho sự phát triển. Và chất lượng cũng phải “bơn bớt”, nhường chỗ cho số lượng khi dân cư đô thị tăng cấp số nhân. Tôi lặng nhìn người đàn ông của đất, của cây, của hoa, người dành hơn 40 năm cuộc đời để nghe tiếng nói của loài cây. Với ông, mỗi lần cắt xén vườn đào, mỗi lần di chuyển gốc đào là một lần ly hương. Mỗi gốc đào bứng đi là một lần rễ cây đứt đoạn, như tim người thắt lại khi rời xa mảnh đất tổ tiên. Tôi nghe những đêm trắng, lều bạt giữa cánh đồng vắng nơi đất mới. Gió rét thấu xương, thỉnh thoảng ông lão vẫn ra vườn ôm lấy gốc vuốt ve cành như trấn an chúng đừng hoảng loạn trước sương gió nơi đất khách. Không còn xóm làng thân thuộc cạnh bên, những người láng giềng cùng hội cùng thuyền cũng xa xăm, chỉ có con chó nhỏ cùng lão lẻ loi giữa vườn hoa bát ngát mà hoang vắng. Những buổi ngắm cây, bình đào bên chén trà đặc của các cụ già làng hoa giờ sắp chỉ còn trong ký ức. Các làng đào dịch chuyển, những bông hoa xưa thay màu. Đô thị lớn nhanh, đó là quy luật tất yếu; Hà Nội phát triển về phía Tây, phía Bắc với những tòa cao ốc, nhưng dường như việc bảo tồn “những lá phổi hồng” xung quanh thành phố chưa thực sự được quan tâm. Lão Chiêm đưa tôi đi xem một gốc đào cổ thụ mà lão đang chăm cho một vị khách ở tận TPHCM. Gốc cây xù xì, rêu mốc bám đầy nhưng những nụ hoa bắt đầu hé mở, khoe sắc hồng phai dịu dàng. “Cây đào nó cũng như người Hà Nội mình”, ông lão chiêm nghiệm. “Dù có phải dạt đi đâu, dù mảnh đất xưa có thành nhà cao tầng, thì cái nết ăn nết ở, cái thói quen thưởng đào ngày Tết nó không mất được. Đất này không trồng được thì ta tìm đất khác. Miễn là lòng người còn yêu hoa, thì mùa xuân vẫn cứ cần đến cây đào". Đó cũng là câu chuyện về sự thích nghi và trường tồn của một giá trị văn hóa. Cánh đào có thể rời xa nội đô, nhưng linh hồn của sắc hoa vẫn sẽ luôn tìm được đường về trong mỗi nếp nhà khi gió Đông vừa dứt. Sắc đào sẽ mãi neo giữ hồn Tết cho một dân tộc vốn trọng vẻ đẹp từ sự tĩnh lặng của thiên nhiên. n 31/1-1/2/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC MINH HỌA: VŨ XUÂN TIẾN Cánh đào bay bốn phương trời Tạp văn của NGUYỄN DIỆU PHƯƠNG

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==