7 n Thứ Sáu n Ngày 23/1/2026 THỜI SỰ 2 con số Đại hội XIV diễn ra trong một thời điểm mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt khi “đồng hồ lịch sử” đang đếm ngược tới mốc tròn 100 năm Đảng ra đời, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo đất nước. Lời phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc Đại hội XIV như khắc họa rõ khát vọng của dân tộc: “Chưa bao giờ nguyện ước về một Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc lại gần với chúng ta như hôm nay, nhưng cũng chưa bao giờ chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức, nhiều đòi hỏi gay gắt, nhiều sức ép cạnh tranh như lúc này”. Đó là trạng thái của một quốc gia đang ở ngưỡng chuyển pha phát triển. Đại hội XIV được nhìn nhận như Đại hội mở ra kỷ nguyên phát triển mới khi lần đầu tiên mục tiêu tăng trưởng hai con số được Đảng đặt ra như một mệnh lệnh cải cách kinh tế. Nhìn lại gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đi một chặng đường dài, đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử: từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu vươn lên nhóm thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng, uy tín và vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao. Nhưng cũng chính tại nấc thang này, những động lực tăng trưởng cũ như dựa vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên đã hoàn thành vai trò lịch sử. Một trong những dấu ấn quan trọng của Đại hội XIV là việc xác lập rõ mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế. Đó là mô hình phát triển dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, hướng tới tăng trưởng nhanh nhưng bền vững. Tăng trưởng không còn được đo bằng quy mô đơn thuần, mà được đặt trên nền tảng năng suất, chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo, từng bước giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ. Lịch sử phát triển của châu Á dường như cho thấy, không quốc gia nào “hóa rồng” bằng sự do dự. Nhật Bản duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhiều thập niên sau Thế chiến II nhờ công nghiệp hóa gắn với đổi mới công nghệ. Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) chấp nhận những mục tiêu tăng trưởng đầy thách thức để buộc hệ thống cải cách đủ sâu, đủ kỷ luật, lấy giáo dục, khoa học và doanh nghiệp làm trụ cột. Trung Quốc với quy mô và điều kiện khác biệt, cũng duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài nhờ cải cách thể chế, mở cửa và liên tục nâng cao năng suất. Việt Nam hôm nay có những điều kiện rất riêng và đang đứng trước một ngã rẽ tương tự, đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ. Đất nước đã có những nền tảng quan trọng khi quy mô nền kinh tế lần đầu vượt mốc 500 tỷ USD; xuất khẩu đến ngưỡng và bước sang giai đoạn nâng chất; doanh nghiệp tư nhân trưởng thành nhanh hơn về năng lực quản trị và công nghệ; kinh tế số mở ra không gian tăng trưởng mới. Điều còn lại mang tính quyết định chính là độ quyết liệt của cải cách; sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của hơn 100 triệu người dân để biến khát vọng thành hành động nhất quán và bền bỉ. Những quyết sách lớn của Bộ Chính trị thời gian qua từ Nghị quyết 57, 68, 69 đến Nghị quyết 79 tuy mới chỉ trong thời gian ngắn triển khai nhưng người dân và doanh nghiệp đã cảm nhận được một luồng sinh khí mới rõ rệt, thủ tục thuận lợi hơn, cơ hội khởi nghiệp rộng mở hơn và việc làm gắn với công nghệ nhiều hơn. Mỗi cá nhân, tổ chức đều như thấy mình cần phải thay đổi trước mệnh lệnh của thời đại. Đặc biệt, những quyết sách còn tạo sức xoay chuyển trong tư duy và hành động phát triển khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; tái định vị khu vực kinh tế Nhà nước theo hướng tập trung vào vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô và dẫn dắt phát triển… Trong không khí mừng Đảng, mừng Xuân đang về, niềm tin đất nước vươn mình được Đại hội XIV xác lập không còn dừng ở kỳ vọng, mà hóa thành cam kết phát triển bền bỉ cho các thế hệ tương lai. DƯƠNG HƯNG Chuyển động từ những quyết sách lớn SỔ TAY LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG mạnh thể chế hóa việc sử dụng dữ liệu thuế và lịch sử thanh toán điện tử làm cơ sở thẩm định tín dụng, đồng thời nâng cấp các quỹ bảo lãnh tín dụng để Nhà nước thực sự chia sẻ rủi ro với ngân hàng. Khi rủi ro thể chế được cắt giảm và Nhà nước chấp nhận đồng hành, dòng vốn xã hội sẽ được giải phóng khỏi trạng thái phòng thủ để chảy mạnh vào sản xuất, giúp doanh nghiệp tư nhân chiếm lĩnh vị thế dẫn dắt đầu tư xã hội với tỷ trọng ổn định 58-60%. Nghị quyết 68 đã thực hiện một bước bứt phá lịch sử khi chủ trương mở rộng cánh cửa cho kinh tế tư nhân tham gia vào mọi lĩnh vực, kể cả những nơi trước đây được coi là vùng cấm. Nhà nước áp dụng cơ chế đặt hàng và chỉ định thầu đối với các dự án trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, công nghiệp bán dẫn, năng lượng sạch và hạ tầng số cho những tập đoàn tư nhân nội địa đủ năng lực. Cơ chế này không chỉ đơn thuần là giao việc, mà là sự thiết lập một sân chơi công bằng thông qua các hợp đồng dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và tư nhân. Việc thể chế hóa khát vọng dân tộc vào các chương trình như Go Global hay phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong sẽ giúp doanh nghiệp Việt vươn tầm quốc tế, sòng phẳng cạnh tranh trong những lĩnh vực công nghệ khó như AI và ô tô điện. Đặc biệt, sự cam kết bảo vệ quyền lợi doanh nhân qua việc dân sự hóa các quan hệ kinh tế và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ giúp giải tỏa tâm lý lo ngại, khơi dậy tinh thần dấn thân để kinh tế tư nhân vững vàng đóng góp 55% GDP vào năm 2030. TS. NGUYỄN MINH PHONG, ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG TƯ VẤN KINH TẾ, ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM: Phát triển lực lượng sản xuất mới, công nghệ cao Nước ta đã đi qua giai đoạn tăng trưởng nhanh nhờ “mẫu số nhỏ”, tương tự chu kỳ phát triển của nhiều nền kinh tế khác. Khi quy mô kinh tế đã lớn hơn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao rõ ràng khó hơn rất nhiều, giống các nền kinh tế lớn như Mỹ gần như không còn tăng trưởng mạnh, trừ những giai đoạn phục hồi đặc biệt sau suy giảm kinh tế. Như vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030 trở đi là tham vọng lớn, tuy nhiên, có những cơ sở nhất định cho mục tiêu này. Trước hết là nền tảng tăng trưởng tích lũy từ nhiều năm đổi mới đã tạo ra tiền đề quan trọng, từ thể chế, hạ tầng vật chất, pháp luật cho đến tinh thần và định hướng phát triển. Quan trọng hơn, Việt Nam đang từng bước hình thành một bộ phận lực lượng sản xuất mới. Đây không phải lực lượng hoàn toàn mới, mà là sự nâng cấp của lực lượng sản xuất hiện hữu với tỷ trọng ngày càng cao, gắn với trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, internet, robot, vật liệu mới, năng lượng sạch và các phương thức sản xuất tiên tiến. Song song với đó là sự chuyển biến về chất lượng lao động. Lực lượng lao động mới có trình độ cao hơn, tư duy toàn cầu hơn và khả năng thích ứng tốt hơn với chuỗi giá trị quốc tế. Đây chính là yếu tố then chốt quyết định tăng trưởng trong tương lai, đặc biệt khi xu thế này đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu. Việc phát triển lực lượng sản xuất mới là cơ hội quan trọng giúp Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình và hướng tới tăng trưởng hai con số. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm liên tiếp, các lĩnh vực kinh tế số, công nghệ cao đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất cao, tạo ra “bằng chứng vật chất” cho định hướng này. Việt Nam đang chủ trương đẩy mạnh đầu tư, cả đầu tư công lẫn đầu tư tư nhân. Đầu tư công tăng mạnh, có giai đoạn lên tới 30-40%, tập trung vào hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và cả nhà ở xã hội, qua đó tạo động lực lan tỏa cho toàn nền kinh tế. Ở góc độ bên ngoài, Việt Nam cũng đang đứng trước cơ hội từ quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị và xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc, Việt Nam được xem là điểm đến tiềm năng của nhiều tập đoàn lớn, nhờ chính sách dung hòa và hội nhập rộng mở. Khu vực kinh tế tư nhân cũng đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nếu tiếp tục tháo gỡ các rào cản, nâng tầm doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như thúc đẩy hàng triệu hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, nền kinh tế sẽ có thêm một động lực tăng trưởng rất lớn. Khi doanh nghiệp tư nhân thực sự muốn lớn và dám lớn, không còn lo ngại bị chèn ép hay rủi ro thể chế, khu vực này sẽ tạo ra sức bật mới cho tăng trưởng. Đây được xem là nhân tố quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam trong những năm tới. Tuy nhiên, tăng trưởng cao phải đi kèm với ổn định và bền vững. Bài toán đặt ra là làm sao tăng trưởng nhanh nhưng lạm phát vượt mức cho phép, không làm gia tăng nợ xấu, không phát sinh tham nhũng và lãng phí - một thách thức lớn về điều hành. Những định hướng lớn sẽ tiếp tục được làm rõ trong các văn kiện thời gian tới, đặc biệt là sau Đại hội XIV, để thể chế hóa thành luật pháp, chương trình hành động và các biện pháp điều hành cụ thể của Chính phủ. NGỌC MAI - VIỆT LINH Kinh tế vượt gió ngược, tạo nền tảng bứt phá tăng trưởng hai con số giai đoạn tới (ảnh minh họa) ẢNH: P.V
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==