5 n Thứ Ba n Ngày 13/1/2026 THỜI SỰ Bên cạnh đó, theo chuyên gia Trịnh Lê Nguyên, cơ chế khuyến khích và chế tài chưa đủ mạnh để thay đổi hành vi của các tác nhân chính. Trong nhiều trường hợp, chi phí vi phạm môi trường vẫn thấp hơn chi phí tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp hoặc các hoạt động gây ô nhiễm. Ngoài ra, chủ trương xã hội hóa chưa được triển khai một cách thực chất. “Trong nhiều văn bản và phát biểu chính sách, việc huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng, khu vực tư nhân và người dân thường được nhấn mạnh như một giải pháp then chốt. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ chế cụ thể để hiện thực hóa chủ trương này vẫn còn thiếu hoặc chưa đủ hấp dẫn”, ông Nguyên nêu. Đặc biệt, sự thiếu vắng một tầm nhìn dài hạn, nhất quán và có sức dẫn dắt cho môi trường và thiên nhiên Việt Nam cũng là một nguyên nhân nền tảng. Quản trị môi trường cũng đang thiếu tính tham gia đầy đủ và có ý nghĩa của nhiều bên liên quan. Nhiều chính sách được ban hành theo cách từ trên xuống, trong khi việc thực thi lại phụ thuộc rất lớn vào cộng đồng, chính quyền cơ sở và khu vực tư nhân. “Khi người dân không thấy mình là một phần của giải pháp, còn doanh nghiệp chưa được đặt vào vai trò vừa chịu trách nhiệm vừa có cơ hội hưởng lợi từ chuyển đổi xanh, chính sách khó tạo ra sự thay đổi bền vững”, ông Nguyên nói. Nhìn một cách công bằng, theo ông Trịnh Lê Nguyên, những khó khăn trong thực thi chính sách môi trường ở Việt Nam không phải là ngoại lệ mà là thách thức phổ biến của nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, chính từ những “điểm nghẽn” kéo dài này, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tới không chỉ là ban hành thêm chính sách mới, mà là đổi mới cách tiếp cận thực thi chính sách, coi môi trường là một bài toán quản trị hệ thống, đầu tư nghiêm túc cho năng lực thực thi, đồng thời xử lý xung đột lợi ích một cách minh bạch. TUỆ MINH Bước chuyển tư duy chiến lược phía xa và kể, nơi đó chỉ vài năm trước là rừng, vuông tôm của người dân, nay đã nằm trọn trong lòng biển cách bờ khoảng 1km. Trước nay, nghĩ tới Cà Mau, mọi người đều hình dung ra vùng đất này mỗi năm bồi lắng thêm vài trăm mét tiến về phía biển, nên gọi đất biết nở, rừng biết đi. Tuy nhiên, giờ cũng bắt đầu bị biển xâm thực, mất đất, mất rừng. “Bà con ở đây chủ yếu nuôi tôm, nhưng 3 - 4 năm gần đây, nước biển dâng cao, sóng lớn vào mỗi mùa mưa, đất và rừng cứ bị sóng biển cuốn đi dần. Những hộ còn trẻ, không còn đất sản xuất đành chọn đi thành phố làm công nhân, hộ cố bám trụ cũng chủ yếu làm nghề mò cua, bắt ốc, nhặt cây đổ ven biển đem về đốt làm than bán”, ông Khái nói. CẦN GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH, LÂU DÀI Trước mắt, với ngân sách có hạn, sạt lở nhiều nơi, nên các địa phương vẫn chủ yếu áp dụng biện pháp lở đâu chống đó, các điểm sạt lở được đầu tư công trình kè chống khẩn cấp, di dời người dân vào các vùng an toàn hơn. Tại Đồng Tháp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Nguyễn Thành Diệu mới đây chỉ đạo các sở ngành, địa phương triển khai ngay biện pháp khắc phục sạt lở 2 khu vực ở phường Cao Lãnh theo diện cấp bách. Ông Diệu cũng giao Sở NN&MT Đồng Tháp tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến sạt lở, kịp thời báo cáo các tình huống khẩn cấp, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng hoạt động sản xuất, đời sống của người dân trong khu vực sạt lở. Tại Vĩnh Long, để ứng phó tình hình triều cường, sạt lở diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh yêu cầu các sở ngành, xã phường kiểm tra, chủ động gia cố, khắc phục các điểm sạt lở nhỏ trên địa bàn quản lý. Các địa phương còn được giao rà soát, đánh giá lại toàn bộ các công trình thủy lợi, các tuyến đê bao, báo cáo Sở NN&MT để có kế hoạch đầu tư, bảo vệ. Trong những năm qua, tỉnh Cà Mau đã đầu tư được hơn 93km bờ kè biển, với tổng kinh phí hơn 3.590 tỷ đồng. Các đoạn có bờ kè bước đầu đã gây bồi, tạo bãi, khôi phục gần 1.000ha rừng phòng hộ. Mới đây, UBND tỉnh Cà Mau vừa phê duyệt kế hoạch thực hiện đề án phòng, chống sạt lở bờ biển, bờ sông đến năm 2030 và định hướng đến 2050 trên địa bàn tỉnh. Tổng nhu cầu vốn thực hiện các giải pháp công trình phòng, chống sạt lở theo kế hoạch dự kiến khoảng 26.800 tỷ đồng, với chiều dài đê kè dự kiến đầu tư hơn 300km. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau cho biết, hiện tượng sạt lở bờ biển Đông qua tỉnh ngày càng nhanh, do biến đổi khí hậu làm nước biển dâng, triều cường và sóng lớn xuất hiện thường xuyên hơn, gây sạt lở ngày càng nhanh và mạnh. Bên cạnh đó, lượng phù sa từ sông Mê Kông về đồng bằng ngày càng giảm, khai thác cát làm tăng xói lở thay vì bồi lắng thêm như trước. HÒA HỘI - TÂN LỘC Sạt lở đê Biển Đông đã cuốn trôi nhiều diện tích vuông tôm của người dân tại Cà Mau NHỮNG "CẢNH BÁO ĐỎ" TỪ THỰC TIỄN Môi trường đang chịu sức ép lớn từ cả tự nhiên lẫn con người. Mưa lớn bất thường gây ngập lụt nghiêm trọng tại nhiều đô thị lớn, lũ quét, sạt lở đất liên tiếp xảy ra ở miền núi. Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận ngập lụt không chỉ do mưa. Nguyên nhân sâu xa nằm ở sự "lỗi nhịp" giữa tốc độ đô thị hóa và hạ tầng tiêu thoát. Tình trạng bê tông hóa tràn lan đã xóa sổ các vùng trũng tự nhiên, khiến nước không còn đường thấm, không còn chỗ chứa. Nguồn nước và vận hành hồ chứa, các dòng sông ngày càng bị thu hẹp, ô nhiễm, thậm chí “chết lâm sàng”. Đáng chú ý, việc vận hành hồ chứa thủy điện, thủy lợi vẫn còn nhiều bất cập. Mâu thuẫn giữa mục tiêu phát điện (tích nước) và phòng chống lũ (xả nước) càng trở nên gay gắt trong bối cảnh thời tiết dị thường. Quy trình vận hành cũ đang tỏ ra lạc hậu trước diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu, khiến người dân hạ du phải gánh chịu rủi ro kép vừa thiên tai, vừa nhân tai. Bên cạnh đó ô nhiễm không khí tại Hà Nội và TPHCM nhiều thời điểm vượt ngưỡng. Những hiện tượng đó cho thấy, môi trường đã trở thành yếu tố quyết định đến chất lượng tăng trưởng và an ninh con người, chứ không còn là "hệ quả phụ" cần khắc phục sau. Việc dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trung tâm mang nhiều tầng ý nghĩa. Thứ nhất, khẳng định dứt khoát rằng phát triển kinh tế không thể đánh đổi bằng môi trường. Môi trường phải song hành, thậm chí dẫn dắt định hướng phát triển. Mọi quyết sách kinh tế - xã hội cần được soi chiếu nghiêm túc dưới "lăng kính" môi trường. Thứ hai quan điểm này phù hợp với xu thế quốc tế, chuyển từ mô hình "nâu" sang kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đây là cam kết trách nhiệm toàn cầu và là cách bảo vệ lợi ích lâu dài của quốc gia. Thứ ba, định hướng này đáp ứng yêu cầu nội tại của người dân. Khi mức sống tăng lên, thước đo của hạnh phúc không chỉ là thu nhập mà là không gian xanh, không khí sạch và nguồn nước an toàn. GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ: TƯ DUY "THUẬN THIÊN" VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG MINH Xác định đúng vấn đề mới chỉ là bước khởi đầu. Để hiện thực hóa chủ trương, cần những giải pháp đủ mạnh, mang tính kỹ trị và khoa học. Đầu tiên là chuyển đổi tư duy trị thủy và quy hoạch đô thị. Thay vì chỉ tập trung vào các giải pháp công trình cứng nhắc (cống, đê bao), cần áp dụng các giải pháp "Thuận thiên" (Nature-based Solutions). Đối với đô thị, cần hướng tới mô hình "Thành phố bọt biển" (Sponge City) - khôi phục không gian cho nước thông qua việc giữ gìn ao hồ, mảng xanh và vật liệu thấm. Việc kiểm soát lấn chiếm sông ngòi phải đi đôi với việc quy hoạch hành lang thoát lũ bền vững. Bên cạnh đó, cần hiện đại hóa vận hành liên hồ chứa thông qua việc rà soát toàn diện quy trình vận hành hồ chứa theo hướng thời gian thực. Cần ứng dụng công nghệ dự báo hiện đại, AI để đưa ra quyết định xả lũ hay tích nước chính xác, đảm bảo an toàn cho hạ du là ưu tiên số một. Không thể để lợi ích kinh tế ngắn hạn của doanh nghiệp chi phối sinh mệnh của cộng đồng. Ngoài ra, cần sử dụng công cụ kinh tế để quản lý môi trường. Bên cạnh các biện pháp hành chính đối với nguồn thải giao thông, công nghiệp, cần thúc đẩy cơ chế "Lượng giá tài nguyên". Môi trường phải được xem là một loại vốn. Người gây ô nhiễm phải trả chi phí xử lý tương xứng; người bảo vệ môi trường (như giữ rừng, giữ nước) phải được thụ hưởng từ dịch vụ hệ sinh thái. Đầu tư cho năng lượng sạch và giao thông công cộng phải được xem là đầu tư cho hạ tầng chiến lược. Đưa bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ trung tâm là một bước tiến tư duy chiến lược. Tuy nhiên, chủ trương này chỉ có giá trị khi được cụ thể hóa bằng hành động nhất quán. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu khốc liệt và tài nguyên hữu hạn, lựa chọn phát triển hài hòa với môi trường không chỉ là vấn đề đạo đức, mà là điều kiện sinh tồn để đất nước phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường cần trở thành ý thức thường trực của toàn xã hội, từ cơ quan quản lý đến cộng đồng, việc đặt môi trường vào trung tâm chính là đặt con người vào trung tâm của mọi quyết sách phát triển. TS. TÔ VĂN TRƯỜNG (Chuyên gia độc lập về môi trường, tài nguyên nước) Trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV lần đầu tiên xác định phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường là những nhiệm vụ trung tâm, gắn bó chặt chẽ với nhau. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển từ tăng trưởng đơn thuần sang phát triển bền vững, hài hòa, dài hạn. Trong bối cảnh thiên tai cực đoan gia tăng và hệ sinh thái suy thoái, đây là lựa chọn "đúng, trúng và cấp thiết". Miền Trung vừa trải qua một mùa mưa lũ lịch sử với thiệt hại vô cùng nặng nề ẢNH: TRƯƠNG ĐỊNH Chính phủ đã giao Bộ NN&MT xây dựng Đề án phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Đề án nhằm hướng tới các giải pháp tổng thể, liên tỉnh, liên vùng để giải quyết cơ bản tình trạng sụt lún đất tại các trọng điểm đến năm 2030; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sạt lở bờ sông, bờ biển; đến năm 2030 cơ bản hoàn thành xử lý sạt lở bờ biển Tây và các khu vực trọng điểm về sạt lở bờ Biển Đông, bờ sông thuộc các tuyến sông chính; đến năm 2035 cơ bản hoàn thành xử lý sạt lở bờ Biển Đông, bờ sông thuộc các tuyến sông chính. TS. Tô Văn Trường
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==