Báo Tiền Phong số 1-2-3-4

www.tienphong.vn HÃNG HÀNG KHÔNG NGHỈ DƯỠNG ĐẦU TIÊN Trung tuần tháng 10/2025, Sun PhuQuoc Airways (SPA) được Tập đoàn Sun Group chính thức ra mắt. Chỉ sau đó nửa tháng, ngày 1/11/2025, hãng thực hiện chuyến bay thương mại đầu tiên, kết nối Phú Quốc với Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng. Đây là hãng hàng không nghỉ dưỡng đầu tiên tại Việt Nam, tập trung vào phân khúc du lịch, charter (thuê bay nguyên chuyến) và dòng khách có khả năng chi tiêu cao. Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, ông Uông Việt Dũng - Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam - cho rằng sự biến động thị phần hàng không không phụ thuộc vào một yếu tố đơn lẻ, mà là kết quả tổng hợp của nhiều cấu phần: Năng lực đội tàu bay, mạng đường bay, chính sách giá vé, chất lượng dịch vụ và trải nghiệm khách hàng, năng lực tài chính - quản trị, chiến lược marketing, thương hiệu, chương trình khách hàng thường xuyên, quan hệ liên minh - liên danh quốc tế, cũng như khả năng tiếp cận slot tại các cảng hàng không lớn. Theo ông Dũng, Việt Nam vẫn còn dư địa lớn cho phát triển hàng không dân dụng và Nhà nước luôn tạo điều kiện để các hãng hàng không mới của Việt Nam gia nhập thị trường, qua đó thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng mạng bay và nâng cao chất lượng dịch vụ. “Sự góp mặt của Sun PhuQuoc Airways cho thấy thị trường vẫn đủ hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư lớn”, ông Dũng nói. Tuy nhiên, Cục trưởng Cục Hàng không cũng nhấn mạnh, vận tải hàng không không phải là cuộc chơi dễ dàng. Các doanh nghiệp muốn tham gia phải có nền tảng tài chính - kỹ thuật vững, chiến lược kinh doanh khác biệt, đội ngũ nhân lực chất lượng cao và đặc biệt là khả năng duy trì các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn hàng không. Các hãng chỉ thực sự đóng góp tích cực cho thị trường khi tạo ra cạnh tranh lành mạnh, mở thêm đường bay mới và nâng cao chất lượng dịch vụ, thay vì chỉ gia tăng số lượng chuyến bay. Về hạ tầng, ông Dũng cho biết nhà chức trách đang điều phối slot theo hướng minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các hãng và doanh nghiệp dịch vụ hàng không. KHÔNG CÒN LÀ CUỘC ĐUA SỐ LƯỢNG Từ góc độ thị trường, PGS.TS Ngô Trí Long nhận định, hàng không nội địa Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhất trong gần một thập kỷ. Theo ông, sự xuất hiện của các hãng mới, cùng quá trình tái cơ cấu của các hãng đang gặp khó, đang đẩy thị trường sang một cấu trúc hoàn toàn khác. “Thị phần không còn được quyết định bởi việc sở hữu bao nhiêu máy bay, mà bởi chiến lược phân khúc, năng lực tài chính và tốc độ thích nghi”, ông Long nói và nhấn mạnh, thị trường nội địa hiện phân hóa rõ thành ba nhóm: Nhóm dẫn dắt, nhóm đuổi theo và nhóm “sống còn”. Vị chuyên gia chỉ ra, hơn 30% sản lượng vận chuyển nội địa tập trung ở các đường bay trục Hà Nội - TPHCM - Đà Nẵng, đây là “xương sống lợi nhuận” của các hãng. Trong khi đó, các đường bay du lịch như Phú Quốc, Nha Trang, Đà Lạt hay các đường bay địa phương - ngách nhỏ mới là không gian cạnh tranh thực sự cho các hãng mới gia nhập thị trường. Ông Long cho rằng rủi ro lớn nhất với các hãng mới hiện nay là chi phí. Chi phí đầu vào của ngành hàng không hiện cao hơn giai đoạn 2018 - 2019 khoảng 20 - 30%, trong khi tỷ giá, lãi suất, chi phí thuê tàu bay và tình trạng khan hiếm nhân lực phi công - kỹ thuật tiếp tục bào mòn biên lợi nhuận. Ông dẫn câu chuyện tái cơ cấu của Bamboo Airways như một ví dụ điển hình: Mở rộng đội bay quá nhanh, sử dụng nhiều chủng loại tàu bay, mạng đường bay dàn trải và áp lực tài chính hậu COVID -19 khiến hãng buộc phải thu hẹp quy mô để tồn tại. Với Vietravel Airlines, thách thức lại nằm ở quy mô nhỏ và nguồn lực tài chính hạn chế, khiến việc mở rộng đội bay gặp nhiều khó khăn. Theo ông Long, trong bối cảnh đó, các hãng mới như Sun PhuQuoc Airways chỉ có hai con đường: Hoặc chọn phân khúc ngách với sản phẩm đặc thù (nghỉ dưỡng, charter, dịch vụ cao cấp), hoặc chấp nhận cạnh tranh trực diện bằng tiềm lực tài chính mạnh và sẵn sàng chịu lỗ trong vài năm đầu. n LỘC LIÊN THỊ TRƯỜNG HÀNG KHÔNG VIỆT NAM ĐANG MỞ CỬA MẠNH MẼ CHO CÁC HÃNG MỚI, NHƯNG ĐI KÈM LÀ NHỮNG YÊU CẦU NGÀY CÀNG KHẮT KHE VỀ TÀI CHÍNH, QUẢN TRỊ VÀ AN TOÀN. THEO GIỚI CHUYÊN GIA, ĐÂY SẼ LÀ GIAI ĐOẠN SÀNG LỌC KHỐC LIỆT, NƠI CHỈ NHỮNG HÃNG CÓ CHIẾN LƯỢC RÕ RÀNG MỚI TRỤ VỮNG. KINH TẾ 31 Thêm hãng bay, đua chất lượng Việc hàng không Việt Nam xuất hiện thêm nhiều hãng mới là tín hiệu cho thấy thị trường vẫn hấp dẫn và còn dư địa tăng trưởng. Tuy nhiên, như cả cơ quan quản lý và các chuyên gia đều chung nhận định, đây cũng là giai đoạn sàng lọc mạnh mẽ, nơi chỉ những hãng có chiến lược rõ ràng, năng lực tài chính vững và mô hình kinh doanh phù hợp mới có thể trụ vững. Những “dư chấn” từ các vụ việc vi phạm bị phanh phui trong năm 2025, cùng sự lấn át ngày càng mạnh của môi giới lao động tự phát, đang đặt các doanh nghiệp xuất khẩu lao động hợp pháp vào thế khó, còn người lao động thì đứng trước nhiều lựa chọn nhưng cũng lắm rủi ro hơn. Tại Hội nghị gặp gỡ, đối thoại với các doanh nghiệp đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mới đây, bức tranh chung được nhiều doanh nghiệp mô tả là “càng làm càng khó”. Trong đó, vấn đề nổi cộm nhất là sự bành trướng của các nhóm môi giới lao động địa phương – những “sàn giao dịch” tự phát đang hoạt động công khai ở nhiều vùng quê. Ông Mai Sỹ Ngọc – Tổng Giám đốc Công ty Nhật Thành HR – cho biết, đội ngũ tuyển dụng của doanh nghiệp hiện gần như không thể cạnh tranh với môi giới địa phương. “Các đầu mối này nắm hết thông tin lao động, linh hoạt trong tuyển chọn, thậm chí kết nối trực tiếp với phía doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, doanh nghiệp được cấp phép như chúng tôi phải trình đủ hồ sơ pháp lý, chờ văn bản trả lời của Cục Quản lý lao động ngoài nước, nên mất rất nhiều thời gian”, ông Ngọc nói. Theo ông Ngọc, tại những thị trường có nhu cầu lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, môi giới địa phương đã “lấn sân” đến mức doanh nghiệp hợp pháp khó chen chân. Thậm chí, có trường hợp đối tác nước ngoài thỏa thuận trực tiếp với môi giới trong nước để tuyển lao động, còn doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn vai trò làm thủ tục. “Có những ca, lao động và bên tiếp nhận đã thống nhất với nhau xong xuôi, doanh nghiệp trong nước chỉ ‘làm hồ sơ hộ’. Rõ ràng là đang có sự bắt tay giữa chủ sử dụng lao động bên kia với môi giới địa phương”, ông Ngọc nêu thực tế đáng lo ngại. Một nghịch lý khác được nhiều doanh nghiệp phản ánh là chi phí môi giới ngày càng phình to. Quy định hiện hành chỉ cho phép doanh nghiệp thu phí môi giới không quá 1,5 tháng lương đối với hợp đồng 36 tháng. Thế nhưng trên thực tế, tại một số thị trường như Nhật Bản, phí môi giới đang chiếm tới 40% giá trị dịch vụ. “Chúng tôi chưa từng thấy lĩnh vực nào mà chi phí môi giới lại chiếm tỷ trọng lớn như vậy. Doanh nghiệp bị động hoàn toàn, không thể xây dựng đội ngũ tuyển dụng riêng để chủ động nguồn lao động”, ông Ngọc nói. Chi phí cao không chỉ bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp mà cuối cùng còn đẩy gánh nặng sang người lao động – những người vốn đã phải vay mượn để đi làm việc ở nước ngoài. Không chỉ khó vì thị trường, nhiều doanh nghiệp còn phải gồng mình vượt qua hậu quả của những vụ việc “lùm xùm” trong ngành. Trao đổi với phóng viên Tiền Phong, lãnh đạo Công ty CP Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại (Sona) cho biết, hơn nửa năm sau biến cố, doanh nghiệp vẫn hoạt động cầm chừng, không có doanh thu, quỹ lương trả cho cán bộ ngày càng cạn. “Giấy phép xuất khẩu lao động của công ty bị ‘treo’ suốt 7 tháng. Đến khi được cấp lại thì khách hàng đã chuyển sang các doanh nghiệp khác. Chúng tôi buộc phải thiết lập lại toàn bộ đầu mối với đối tác nước ngoài, coi như xóa cờ đánh lại”, vị lãnh đạo Sona nói. Về kế hoạch năm 2026, doanh nghiệp này xác định quay lại các thị trường truyền thống vốn là thế mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời tìm kiếm cơ hội ở châu Âu. Tuy nhiên, dự báo chung vẫn khá dè dặt. “Thị trường xuất khẩu lao động năm 2026 sẽ trầm lắng hơn năm 2025. Sau vụ việc vừa qua, nhiều doanh nghiệp chỉ dám hoạt động cầm chừng”, vị này nhận định. Theo lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu lao động tại Thanh Xuân (Hà Nội), năm 2026 sẽ không còn là “thời hoàng kim” của xuất khẩu lao động như giai đoạn trước. Một trong những nguyên nhân quan trọng là thu nhập trong nước, đặc biệt tại các khu công nghiệp, đang tiệm cận mức thu nhập của lao động phổ thông đi làm việc ở nước ngoài nếu trừ hết các loại thuế, phí. PHAN THIÊN Nỗi lo xuất khẩu lao động năm 2026 BƯỚC SANG NĂM 2026, THỊ TRƯỜNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG ĐƯỢC DỰ BÁO ĐỐI DIỆN NHIỀU KHÓ KHĂN. Hành khách làm thủ tục không giấy tờ (bay nội địa) thông qua ứng dụng VNeID hoặc kiosk tự phục vụ ẢNH: NIA Thị trường xuất khẩu lao động được dự báo đối diện nhiều khó khăn, trầm lắng trong năm 2026

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==