Tết ngược Số 1-2-3-4 Trang 35 Tờ lịch cuối cùng của năm 2025 đã khép lại, mở ra một trang mới tiếp theo trong dòng chảy miên man của thời gian. 2026 có thể nói là năm được mong chờ nhất của thời điểm hiện tại. Bởi từ bản lề của năm trước đã mở ra hàng loạt những thay đổi lịch sử của đất nước về thể chế, bộ máy và những quyết sách lớn... CHUYỆN ĐẦU NĂM Trang mới Xem tiếp trang 5 Khát vọng Sách “Dị nhân” Trang 13 bonsai 0977.456.112 Ra ngày 1-4/1/2026 Đoàn viên, thanh niên tại Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể T.Ư lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 ẢNH: DƯƠNG TRIỀU
ĐỔI MỚI, QUYẾT ĐOÁN VÀ BẢN LĨNH “Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển mạnh mẽ của dân tộc, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo có phẩm chất, tư chất cao hơn nhiều. Như vậy, mới có thể đảm đương chức trách lãnh đạo để đưa đất nước phát triển”, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng Nguyễn Trọng Phúc nói với phóng viên Tiền Phong. Theo ông, mỗi thời kỳ, sẽ có những yêu cầu cụ thể đối với đội ngũ cán bộ nói chung, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ lãnh đạo cấp cao. "Trong bối cảnh, mục tiêu phát triển của đất nước là nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc, đòi hỏi cán bộ có phẩm chất, tư chất cao hơn nhiều. Có đáp ứng được yêu cầu đó thì mới có thể đảm đương chức trách lãnh đạo đưa đất nước phát triển, bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc”, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng nói. Về yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ lãnh đạo các cấp trong kỷ nguyên phát triển mới, ông Phúc cho rằng, trước hết phải mẫu mực về đạo đức, lối sống trong sáng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Bác Hồ đã dạy, thật sự vì nước, vì dân. “Có phẩm chất như thế mới đủ uy tín để tập hợp đoàn kết, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện những mục tiêu cao cả của đất nước, nhất là 2 mục tiêu 100 năm: 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm thành lập nước CHXHCN Việt Nam (năm 2045). Đây chính là gốc, là nền tảng của người lãnh đạo, nhất là với cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu”, ông Phúc nêu. Ông cũng cho rằng, phẩm chất này, cần có ở tất cả người đứng đầu các cấp, từ trung ương đến địa phương, những lãnh đạo sở, ngành. “Những người lãnh đạo có trách nhiệm lớn đều phải rèn giũa đạo đức. Như Bác Hồ từng nói, đạo đức là gốc của người làm cách mạng”, ông Phúc chia sẻ thêm. Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cũng nhấn mạnh yếu tố trí tuệ của thế hệ cán bộ lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay. Người cán bộ phải có học vấn cao, có khả năng vận dụng, thực hiện thành quả cách mạng khoa học, công nghệ vào khoa học lãnh đạo, quản lý đất nước. “Trước đây, chúng ta nói nhiều đến ý chí, tinh thần, nhiệt tình, nhưng bây giờ, phải thật sự có trí tuệ cao trong quản lý, điều hành mới đảm đương được. Nếu không có trí tuệ cao, không có khả năng làm việc trong điều kiện mới, nhất là trong kỷ nguyên số, cán bộ sẽ tự loại bỏ mình, không thể đáp ứng yêu cầu, phải đứng ra ngoài cho người khác làm”, ông Phúc nêu quan điểm. Một yêu cầu nữa, theo ông Phúc, là cán bộ phải hết sức trung thành, tận tụy với công việc, hết lòng hết sức phụng sự cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thách thức www.tienphong.vn THỜI SỰ 2 TRƯỜNG PHONG HƯỚNG TỚI ĐẠI HỘI XIV TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ VÀ YÊU CẦU MỚI VỀ CÁN BỘ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ DẤU MỐC MỞ RA KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI, VỚI MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ TRONG NHIỀU NĂM LIỀN MỘT CÁCH BỀN VỮNG VÀ TỰ CHỦ HƠN. ĐỂ HIỆN THỰC ĐƯỢC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẦY KHÁT VỌNG ĐÓ, YÊU CẦU VỀ TRÁCH NHIỆM, BẢN LĨNH CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI CŨNG ĐÒI HỎI CAO HƠN, DÁM NGHĨ, DÁM LÀM VÌ LỢI ÍCH CHUNG. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu khai mạc tại Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII ẢNH: NHẬT MINH Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước đã đưa ra một loạt cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua các quy định, như việc sửa đổi bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng; sửa đổi một số quy định trong các luật liên quan… hướng tới việc hoàn thiện thể chế, trong đó có cơ chế kiểm soát quyền lực. Với các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức cán bộ, người thân, người quen… cũng đều có quy định. “Đảng ngày càng hoàn thiện hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực”, ông Dĩnh nhận định, đồng thời nhấn mạnh rằng, như chủ trương bố trí bí thư cấp ủy, chủ tịch UBND cấp tỉnh, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, chánh thanh tra tỉnh… không phải là người địa phương là “cơ chế kiểm soát quyền lực và tránh chủ nghĩa thân hữu” một cách hiệu quả. Ngày càng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực Ông Nguyễn Trọng Phúc
vì lợi ích chung của đất nước. Trong bối cảnh mới, nếu không có những phẩm chất đó, rất khó để thực hiện. “Quan trọng nhất là bản lĩnh chính trị và sự quyết đoán. Mà muốn quyết đoán, đòi hỏi người cán bộ phải có bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tư duy đổi mới”, ông Phúc phân tích. Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cho rằng, người cán bộ lãnh đạo phải có tư duy không ngừng đổi mới. Đổi mới về tư duy lý luận, nâng cao trình độ lý luận, về tầm nhìn chiến lược, dự báo tình hình trong nước và thế giới. “Cán bộ phải luôn luôn thấy trước được vấn đề để lãnh đạo, quản lý một cách chủ động, thích ứng đối với mọi hoàn cảnh lịch sử”, ông Phúc nêu, đồng thời nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cán bộ lãnh đạo quản lý phải không ngừng học tập, tiếp nhận, tìm hiểu các vấn đề trên thế giới, những xu hướng trên toàn cầu, thực sự là một “chiến sĩ quốc tế” để hội nhập vào xu thế thời đại. TINH THẦN PHỤNG SỰ CAO HƠN Phân tích thêm một số yếu tố, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng Nguyễn Trọng Phúc lưu ý rằng, trong bối cảnh đất nước phát triển nhanh như hiện nay, áp lực đối với cán bộ là phải ra quyết định rất nhanh, chính xác. Để có thể làm được như vậy, đội ngũ cán bộ phải không ngừng tự học, tự rèn luyện, tự vươn lên. “Mỗi cán bộ phải tự tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, về học vấn, về đạo đức cách mạng, về ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cán bộ phải quan tâm đến điều đó, nếu không anh sẽ bị tụt hậu, bị loại bỏ”, ông Nguyễn Trọng Phúc nói. Cùng chung nhận định, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh nhấn mạnh, từ trước đến nay, chúng ta đều xác định công tác cán bộ là then chốt của then chốt. Vì thế, ở bất cứ giai đoạn nào, trước hết cũng phải quan tâm đến công tác cán bộ. “Đội ngũ cán bộ không tốt thì không thể phát triển được”, ông Dĩnh nói, đồng thời cho rằng, thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều quan điểm, chủ trương mới về công tác cán bộ, trong đó có việc bố trí bí thư, chủ tịch tỉnh và một số chức danh lãnh đạo tỉnh không phải là người địa phương. “Cán bộ lãnh đạo là người địa phương có thể liên quan đến những mối quan hệ thân thuộc của địa phương, người quen, người thân, hàng xóm láng giềng, dẫn tới có thể có những quyết định không khách quan, thậm chí nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”, ông Dĩnh nói. Theo ông, việc bố trí các vị trí lãnh đạo tỉnh, thành phố không phải là người địa phương “sẽ không bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ, nên xử lý công việc khách quan, dân chủ, dám nghĩ, dám làm, dám quyết định”. Đáng chú ý, theo ông Dĩnh, hiện nay, không phải cán bộ chỉ “đi cơ sở một tí rồi về”, mà đã có quy định luân chuyển phải từ 3 năm trở lên. Cũng không phải “cứ luân chuyển về rồi lên chức”, mà phải phụ thuộc vào “kết quả công việc”. “Nếu anh không làm được việc, không có kết quả thì không thể phát triển được”. Nếu cán bộ về địa phương mà không phải là hạt nhân lãnh đạo, hạt nhân đoàn kết, đưa địa phương vươn lên và khẳng định mình bằng kết quả công việc, thì không được đánh giá cao. “Trong hướng dẫn kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân, đảng viên, công chức… có tới 70% số điểm là kết quả, hiệu quả công việc. Từ đó, cán bộ, đảng viên sẽ định lượng được rất rõ các tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ thế nào, đơn vị, địa phương có ổn định, phát triển không. Tất cả đều gắn với kết quả của cán bộ lãnh đạo quản lý”, ông Dĩnh nói. n www.tienphong.vn THỜI SỰ 3 CỦA ĐẢNG BẢN LĨNH VÀ TRÍ TUỆ Bước vào giai đoạn “tăng tốc”, tôi cảm nhận rất rõ áp lực đối với đội ngũ cán bộ hiện nay đã khác trước rất nhiều. Mọi quyết định phải đưa ra nhanh hơn, chính xác hơn. Chỉ một sự chậm trễ trong xử lý thủ tục, do dự trong phê duyệt dự án hạ tầng, hay một cách tiếp cận thiếu tầm nhìn trong các lĩnh vực mới, đều có thể khiến địa phương, ngành mình đánh mất cơ hội. Điều đó đòi hỏi một tư duy điều hành mới của người lãnh đạo. Không chỉ là quản lý hành chính theo kiểu “giữ cho đúng”, mà phải chuyển mạnh sang quản trị phát triển: biết đặt mình trong tổng thể lợi ích quốc gia, biết nhìn xa hơn nhiệm kỳ, biết dự báo rủi ro và lựa chọn phương án tối ưu cho người dân và doanh nghiệp. Cán bộ hôm nay không chỉ cần kiến thức chuyên môn, mà còn phải hiểu kinh tế thị trường, nắm vững pháp luật, có kỹ năng đối thoại… Và quan trọng hơn, phải dám chịu trách nhiệm trước những quyết định vì lợi ích chung, chứ không chỉ chọn giải pháp an toàn cho cá nhân. Theo tôi, phẩm chất cốt lõi nhất của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay chính là bản lĩnh. Bản lĩnh để không né tránh, không đùn đẩy; bản lĩnh để không sa ngã trước lợi ích nhóm; bản lĩnh để kiên định với cái đúng, cái lợi cho quốc gia, dân tộc, dù đôi khi phải đối diện với áp lực rất lớn. Đi cùng với bản lĩnh là trí tuệ và tinh thần đổi mới sáng tạo, biết tìm cách làm hay, dựa trên cơ sở pháp luật, chứ không vin vào khó khăn để “án binh bất động”. Và trên tất cả, tôi luôn nhấn mạnh tinh thần phụng sự nhân dân. Khi động cơ trong sáng, khi cán bộ thực sự coi lợi ích của nhân dân là mục tiêu cao nhất của mình, họ sẽ có đủ dũng khí để “dám nghĩ – dám làm – dám chịu trách nhiệm”, nhưng vẫn tỉnh táo để không vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật. Đó chính là hình mẫu cán bộ mà chúng ta cần xây dựng cho hành trình phát triển mới của đất nước. KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, cán bộ phải thường xuyên làm việc với doanh nghiệp, xử lý những vấn đề rất phức tạp về đầu tư, đất đai, tài chính, quy hoạch… Chính bởi vậy, áp lực lợi ích, cám dỗ vật chất, sự tác động từ nhiều phía là có thật. Nếu không có “hàng rào đạo đức” và một cơ chế kiểm soát quyền lực đủ chặt chẽ, cán bộ rất dễ trượt dài, thậm chí trở thành “con tin của doanh nghiệp”, làm méo mó môi trường kinh doanh và làm tổn thương niềm tin của nhân dân. Theo tôi, muốn cán bộ giữ vững đạo đức công vụ mà vẫn hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội minh bạch, đúng pháp luật, cần đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cán bộ phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân ở vị trí trung tâm trong mọi quyết định. Khi động cơ đã trong sáng, khi cán bộ ý thức rõ mình là “đầy tớ của nhân dân” chứ không phải “quan cách mạng”, thì sẽ biết từ chối những lợi ích không chính đáng. Cùng với đó, thể chế phải minh bạch, rõ ràng và ổn định, giảm tối đa cơ chế xin – cho, hạn chế sự tùy tiện trong quyết định hành chính. Khi quy trình được số hóa, mọi thủ tục được công khai, người dân và doanh nghiệp có thể theo dõi, giám sát, thì khoảng trống cho tiêu cực sẽ thu hẹp lại. Điều này không chỉ bảo vệ lợi ích xã hội, mà còn bảo vệ chính cán bộ khỏi những cám dỗ và áp lực không đáng có. Ngoài ra, cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình thực chất. Quyền lực nào cũng phải được soi chiếu bởi pháp luật, sự giám sát của cơ quan dân cử, của báo chí và đặc biệt là của nhân dân. Làm tốt thì được ghi nhận, có sai phạm thì bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Khi kỷ luật, kỷ cương được thực thi nhất quán, cán bộ sẽ ý thức rõ hơn ranh giới cần tôn trọng. Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng, không thể đòi hỏi cán bộ liêm chính nếu chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc không tương xứng. Chúng ta phải tạo điều kiện để cán bộ yên tâm công tác, có thu nhập phù hợp, có không gian sáng tạo, có cơ chế bảo vệ khi dám làm vì lợi ích chung. Khi đó, cán bộ sẽ không bị lệ thuộc vào doanh nghiệp, mà ngược lại, sẽ trở thành người bạn đồng hành tin cậy của cộng đồng doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật và vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. n LUÂN DŨNG (ghi) CÔNG TÁC CÁN BỘ LUÔN LÀ KHÂU “THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT”, QUYẾT ĐỊNH THÀNH BẠI CỦA MỌI CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH. ĐÂY LÀ MỘT YÊU CẦU MANG TÍNH SINH TỬ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI. MUỐN ĐẤT NƯỚC BỨT PHÁ, TRƯỚC HẾT PHẢI CÓ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BỨT PHÁ BẰNG TRÍ TUỆ, BẰNG BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ VÀ TINH THẦN PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN. ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI BÙI HOÀI SƠN: Tinh thần phụng sự, dám chịu trách nhiệm Ông Nguyễn Tiến Dĩnh “Nhiều cán bộ khi được luân chuyển, bố trí sang địa phương mới sẽ ra khỏi “vùng an toàn” của mình, buộc phải nỗ lực học hỏi, thích nghi, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nâng cao năng lực thực tiễn. Đó cũng là một hình thức đào tạo, rèn luyện rất hiệu quả, giúp cán bộ trưởng thành hơn về bản lĩnh, tầm nhìn và kỹ năng quản trị phát triển”. Đại biểu quốc hội BÙI HOÀI SƠN
TRẠNG THÁI NGUY HIỂM BẬC NHẤT Các chuyên gia nhận định, môi trường quốc tế đang ở trạng thái phức tạp, bất định và nguy hiểm bậc nhất trong nhiều thập kỷ qua. Các trụ cột của trật tự quốc tế hình thành sau Thế chiến 2 tiếp tục bị xói mòn, cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, đa chiều và khó lường hơn. Đối đầu địa chiến lược Mỹ – Trung lan rộng từ lĩnh vực an ninh sang kinh tế, công nghệ; xung đột Nga – Ukraine kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ dẫn tới đụng độ trực tiếp giữa Nga và NATO; Trung Đông tiếp tục bất ổn; các thách thức phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, an ninh lương thực gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ tác động. Đặc biệt, sự trở lại của chủ nghĩa cường quyền khiến môi trường quốc tế thêm bất trắc. Các hành động quân sự đơn phương tại Mỹ Latin, những tuyên bố đe dọa sáp nhập lãnh thổ, rút bỏ cam kết với đồng minh, đảo ngược các chính sách môi trường và phát triển bền vững, áp đặt thuế quan trái với thông lệ quốc tế và các thỏa thuận của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), phớt lờ các thể chế đa phương đang làm gia tăng nguy cơ phân mảnh và đối đầu trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh đó, cạnh tranh công nghệ, đứt gãy chuỗi cung ứng diễn ra quyết liệt, đặt các nền kinh tế có độ mở cao trước sức ép thích ứng chưa từng có. Cùng lúc, tình hình chính trị – xã hội ở nhiều khu vực, kể cả trong Liên minh châu Âu (EU), cũng diễn biến phức tạp với khủng hoảng và trì trệ kinh tế, bất ổn xã hội, sự trỗi dậy của các lực lượng cực hữu, mị dân, phân biệt chủng tộc, cũng như những bất đồng sâu sắc trong nội bộ các khối, từ chính sách với Ukraine đến các vấn đề an ninh – kinh tế. ASEAN, dù giữ vai trò trung tâm khu vực, cũng đang đối mặt với không ít thách thức nội khối. Giới chuyên gia quốc tế cho rằng, cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn đang tạo ra sức ép chiến lược lớn với các quốc gia nhỏ và vừa, buộc họ phải tính toán lại chính sách đối ngoại, lựa chọn chiến lược cân bằng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia mà không rơi vào đối đầu trực diện với bất kỳ siêu cường nào. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron từng cảnh báo tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore: “Nếu buộc phải chọn phe, nếu chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ giết chết trật tự toàn cầu và từng bước phá hủy tất cả các thể chế đã được xây dựng sau Thế chiến 2”. Nhận định này phản ánh nỗi lo chung của nhiều quốc gia trước nguy cơ thế giới bị chia cắt thành các khối đối đầu. TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC Trong bối cảnh đó, Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng một quốc gia tầm trung như Việt Nam phải đối mặt với bài toán đặc biệt khó: vừa bảo vệ tối đa lợi ích cốt lõi của quốc gia – dân tộc, vừa tránh bị cuốn vào đối đầu trực diện hoặc trở thành “con tốt” trong ván cờ lớn của các siêu cường. Theo ông Minh, đến nay, Việt Nam đã theo đuổi chính sách đối ngoại thông minh, nhất quán và hiệu quả: đa dạng hóa, đa phương hóa, cân bằng và linh hoạt về sách lược, nhưng kiên định về nguyên tắc độc lập, tự chủ, không chọn bên mà chọn lẽ phải và chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ). “Kiên định đường lối này chính là con đường duy nhất để giải bài toán khó trong môi trường quốc tế đầy bất trắc hiện nay”, ông nói. Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Quang Minh cho rằng, trước hết, Việt Nam cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ chiến lược như một nguyên tắc tối thượng. Không cho phép bất kỳ đối tác nào ép buộc Việt Nam phải chọn phe hoặc hy sinh lợi ích cốt lõi. Chính sách cân bằng chiến lược của Việt Nam không phải là cân bằng thụ động, mang tính phản ứng, mà là chủ động đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với tất cả các trung tâm quyền lực lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, ASEAN, đồng thời tăng cường quan hệ với các cường quốc bậc trung và mới nổi như Brazil, Nam Phi, Indonesia, UAE… Năm 2025 ghi dấu ấn đặc biệt khi Việt Nam thiết lập và nâng cấp khuôn khổ quan hệ với 17 quốc gia. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược trở lên với cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và hầu hết các nước ASEAN quan trọng. Việc Việt Nam đã nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia tạo ra mạng lưới đan xen lợi ích rộng và sâu, góp phần nâng cao khả năng tự chủ chiến lược và giảm thiểu rủi ro bị cô lập hay gây sức ép. TẠO “LÁ CHẮN MỀM” Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục xây dựng và củng cố “lá chắn mềm” thông qua ngoại giao đa phương và vai trò trung gian. Việc tăng cường vị thế trung tâm của ASEAN, tham gia tích cực vào các cơ chế khu vực như RCEP, CPTPP, APEC… cũng như các diễn đàn toàn cầu như LHQ, G20+… giúp Việt Nam duy trì vai trò kiến tạo hòa bình, thúc đẩy hợp tác công bằng và cùng có lợi, thay vì bị kẹt giữa các lằn ranh đối đầu. Ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng nhuần nhuyễn phong cách Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Việt Nam kiên quyết, rõ ràng và có hệ thống trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên Biển Đông theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982; bảo vệ các lợi ích an ninh và kinh tế tại lưu vực Mekong; kiên định tuân thủ luật pháp quốc tế trong xử lý các điểm nóng và tranh chấp kinh tế – thương mại. Song song với đó, Việt Nam luôn duy trì các kênh đối thoại, nỗ lực kiểm soát khủng hoảng, tránh leo thang không cần thiết khi có va chạm lợi ích, đồng thời tận dụng hiệu quả các cơ chế quốc tế để tạo áp lực pháp lý và dư luận khi cần thiết. Đại sứ Vũ Quang Minh cho rằng, một trụ cột không thể thiếu là xây dựng sức mạnh tổng hợp nội tại. Ông nhắc lại chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, rằng Việt Nam không có thời gian chờ đợi mà phải đẩy nhanh triển khai các chính sách phát triển đất nước ngay từ đầu năm 2026. Một quốc gia càng mạnh về kinh tế, công nghệ, quốc phòng, nhân lực và đoàn kết nội bộ thì càng có khả năng hợp tác và đàm phán ngang tầm, tránh bị ép buộc. “Đặc biệt, Việt Nam cần tiếp tục đan xen lợi ích quốc tế một cách toàn diện, không chỉ về kinh tế, đầu tư, thương mại mà cả quốc phòng và an ninh, trong khuôn khổ song phương và đa phương. Khi lợi ích của Việt Nam gắn chặt với lợi ích của các đối tác lớn, cái giá phải trả cho bất kỳ hành động gây tổn hại nào với Việt Nam sẽ lớn hơn lợi ích họ có thể thu được”, Đại sứ nói. Theo ông Minh, trong môi trường đầy rủi ro, Việt Nam cũng cần phát triển ngoại giao dự phòng, chuẩn bị sẵn các phương án ứng phó với những kịch bản xấu nhất: leo thang xung đột tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Biển Đông, đứt gãy chuỗi cung ứng, cấm vận công nghệ, suy thoái kinh tế toàn cầu… n THU LOAN TRONG BỐI CẢNH THẾ GIỚI BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN BẤT ĐỊNH VÀ CẠNH TRANH KHỐC LIỆT NHẤT NHIỀU THẬP KỶ, VỚI SỰ ĐỐI ĐẦU GAY GẮT GIỮA CÁC SIÊU CƯỜNG, XUNG ĐỘT KÉO DÀI VÀ CÁC THÁCH THỨC PHI TRUYỀN THỐNG GIA TĂNG, ĐẠI SỨ VŨ QUANG MINH, NGUYÊN THỨ TRƯỞNG NGOẠI GIAO, CHO RẰNG, VIỆT NAM CẦN TIẾP TỤC GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC NHƯ MỘT NGUYÊN TẮC TỐI THƯỢNG. KHÔNG CHO PHÉP BẤT KỲ ĐỐI TÁC NÀO ÉP BUỘC VIỆT NAM PHẢI CHỌN PHE HOẶC HY SINH LỢI ÍCH CỐT LÕI. giữa môi trường bất trắc Giải bài toán khó “Việt Nam cần tiếp tục đan xen lợi ích quốc tế một cách toàn diện, không chỉ về kinh tế, đầu tư, thương mại mà cả quốc phòng và an ninh, trong khuôn khổ song phương và đa phương. Khi lợi ích của Việt Nam gắn chặt với lợi ích của các đối tác lớn, cái giá phải trả cho bất kỳ hành động gây tổn hại nào với Việt Nam sẽ lớn hơn lợi ích họ có thể thu được”. Đại sứ VŨ QUANG MINH, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung tiếp Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ, ngày 11/9/2025 ẢNH: BÁO TGVN Đại sứ Vũ Quang Minh trong cuộc trao đổi với PV Tiền Phong www.tienphong.vn THỜI SỰ 4
Xét dưới góc độ kinh tế đô thị, hạ tầng giao thông chính là yếu tố tạo ra giá trị đất. Đường rộng hơn, tiếp cận tốt hơn, khả năng khai thác thương mại cao hơn, tất cả đều xuất phát từ đầu tư công. Nếu ngân sách bỏ tiền tạo ra giá trị, nhưng không có cơ chế thu hồi và phân bổ lại phần giá trị tăng thêm đó, thì nguồn lực xã hội bị sử dụng chưa hiệu quả. Cách làm hiện nay dẫn tới một vòng luẩn quẩn: ngân sách chi lớn để mở đường, nhưng không có nguồn thu tương xứng để tái đầu tư; đô thị muốn tiếp tục mở đường lại phải trông chờ vào ngân sách. Đồng thời, sự chênh lệch lợi ích giữa người bị thu hồi đất, người đóng thuế và người hưởng lợi sau dự án cũng dễ tạo ra tâm lý thiếu đồng thuận. HẠ TẦNG KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI “ĂN” NGÂN SÁCH Nhiều quốc gia đã đối mặt với bài toán tương tự và lựa chọn những cách tiếp cận khác. Điểm chung trong kinh nghiệm quốc tế là không coi mở đường đơn thuần là một dự án giao thông, mà là một quá trình phát triển đô thị tổng hợp, trong đó giá trị đất tăng thêm được xem là nguồn lực tài chính quan trọng. Tại Nhật Bản, trong nhiều thập kỷ, họ áp dụng mô hình chỉnh trang và tái phân lô đất. Người dân trong khu vực dự án cùng tham gia, chấp nhận giảm một phần diện tích đất để làm đường và hạ tầng. Đổi lại, họ được giữ lại vị trí sinh sống, trong môi trường tốt hơn, với giá trị tài sản cao hơn. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng không áp dụng cách làm này một cách máy móc. Ở những khu vực trung tâm và các trục lớn, họ sẵn sàng phá bỏ nhà thấp tầng manh mún để xây dựng các khối cao tầng đồng bộ, tái định cư người dân ngay trong các công trình mới. Hàn Quốc và Trung Quốc đi theo hướng quyết liệt hơn. Khi mở các đại lộ lớn, họ khoét sâu cả một dải đô thị hai bên tuyến, phá bỏ nhà ở thấp tầng, xây dựng các khu cao tầng hỗn hợp. Doanh nghiệp bỏ vốn làm hạ tầng và xây dựng, người dân được bố trí nhà ở mới hoặc bồi thường theo cơ chế rõ ràng, còn bộ mặt đô thị được tái thiết đồng bộ. Singapore lại chọn cách khai thác mạnh quyền phát triển đất. Nhà nước kiểm soát quy hoạch và đất đai, bán hoặc cho thuê quyền phát triển theo kế hoạch, dùng nguồn thu đó để đầu tư hạ tầng. Dù mô hình khác nhau, điểm chung là các nước này không để giá trị đất tăng thêm trôi đi một cách tự phát, mà tìm cách biến nó thành nguồn lực cho phát triển đô thị. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, nếu chỉ mở rộng mặt cắt đường mà giữ nguyên các thửa đất nhỏ lẻ hai bên, đô thị khó có thể thay đổi căn bản. Đường có thể rộng hơn, nhưng nhà cửa vẫn manh mún, kiến trúc chắp vá, hạ tầng xã hội không theo kịp. Khi đó, ùn tắc và quá tải chỉ dịch chuyển từ điểm này sang điểm khác. Điều này cho thấy, trong nhiều trường hợp, vấn đề không chỉ là mở đường, mà là tổ chức lại toàn bộ không gian kiến trúc cảnh quan đô thị dọc theo tuyến. MỞ ĐƯỜNG GẮN VỚI TÁI THIẾT ĐÔ THỊ Một hướng đi đáng cân nhắc là chuyển từ tư duy “mở đường đơn lẻ” sang “tái thiết đô thị theo trục”. Theo đó, khi mở một tuyến đường lớn trong đô thị cũ, có thể xác định một dải không gian đủ rộng hai bên tuyến để tổ chức lại giao thông và không gian sử sụng đất. Doanh nghiệp tham gia dự án bỏ vốn đền bù, xây dựng hạ tầng và công trình, đổi lại được quyền khai thác phần diện tích thương mại còn lại theo quy hoạch. Trong phạm vi đó, nhà thấp tầng manh mún được thay thế bằng các khối công trình cao tầng, có quy hoạch, thiết kế đô thị. Người dân trong khu vực được tái định cư ngay tại chỗ, trong các căn hộ mới, điều kiện sống tốt hơn. Nhà nước không phải chi ngân sách cho giải phóng mặt bằng, nhưng vẫn giữ vai trò kiểm soát quy hoạch, kiến trúc và lợi ích công cộng. Cách làm này giúp đạt được nhiều mục tiêu cùng lúc: giảm gánh nặng tài chính công, tạo động lực cho khu vực tư nhân, bảo đảm tái định cư tại chỗ cho người dân và hình thành bộ mặt đô thị khang trang, đồng bộ hơn, hạn chế tiêu cực khi sử dụng ngân sách công. Để cách làm này không gây hệ lụy, cần một số điều kiện là rất quan trọng. Trước hết là quy hoạch rõ ràng, ổn định, hạn chế điều chỉnh tùy tiện. Tiếp theo là cơ chế minh bạch trong phân chia lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Bên cạnh đó, cần ràng buộc chặt chẽ nghĩa vụ đầu tư hạ tầng xã hội và kỹ thuật đi kèm, tránh tình trạng chỉ “nén cao” mà không cải thiện chất lượng sống. Quan trọng không kém là đối thoại và truyền thông. Khi người dân hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm và viễn cảnh phát triển của khu vực, sự đồng thuận xã hội sẽ cao hơn, giúp dự án triển khai thuận lợi hơn. Chuyển từ tư duy “chi tiền để mở đường” sang tư duy “chia sẻ giá trị để tái thiết đô thị” là một quá trình không đơn giản, nhưng là hướng đi cần thiết để các đô thị Việt Nam phát triển bền vững, hiệu quả và văn minh hơn trong dài hạn. n www.tienphong.vn TRONG CÁC ĐÔ THỊ CŨ, MỞ ĐƯỜNG THƯỜNG ĐỒNG NGHĨA VỚI CHI PHÍ ĐỀN BÙ RẤT LỚN VÀ THỜI GIAN KÉO DÀI. TRONG KHI ĐÓ, GIÁ TRỊ ĐẤT HAI BÊN TUYẾN ĐƯỜNG LẠI TĂNG MẠNH SAU KHI HẠ TẦNG HÌNH THÀNH. VẤN ĐỀ ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÓ THỂ TỔ CHỨC MỞ ĐƯỜNG THEO CÁCH KHÁC, ĐỂ BẢN THÂN GIÁ TRỊ TĂNG THÊM ẤY TRỞ THÀNH NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ, THAY VÌ DÙNG VÀO TIỀN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC? XÃ HỘI 5 CHUYỆN ĐẦU NĂM 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh của dân tộc. 2026 là năm đầu tiên trọn vẹn tiếp tục thực hiện cuộc sắp xếp đơn vị hành chính mang tính lịch sử: triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, với việc bỏ cấp huyện/ quận; giảm mạnh và sáp nhập các đầu mối bộ, ngành Trung ương trùng lắp về nhiệm vụ; sáp nhập 63 tỉnh, thành xuống còn 34 tỉnh, thành. Sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả, hiệu năng, hiệu lực của bộ máy mới, và tất nhiên cũng có không ít thứ cần phải điều chỉnh bổ sung và nâng cao, để phù hợp với thực tế. Là năm chính thức thực hiện 7 Nghị quyết lớn được Bộ Chính trị ban hành, trong đó có “bộ tứ” nghị quyết (Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Hội nhập quốc tế; Đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật; Phát triển kinh tế tư nhân) được xem là bộ khung chiến lược tổng thể, định hình lại mô hình phát triển quốc gia giai đoạn 2025-2045. Năm đầu tiên thực hiện mô hình Khu Thương mại tự do, Trung tâm Tài chính quốc tế đặt trụ sở tại TPHCM và Đà Nẵng – bước đột phá để thu hút nguồn lực tài chính trung và dài hạn, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn mới. Cũng là bắt đầu triển khai thực hiện loạt nghị quyết mới mở ra cơ chế, chính sách đặc thù chưa có tiền lệ cho 3 siêu đô thị là Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng. Là cơ sở pháp lý mở rộng thẩm quyền về đầu tư, đất đai, quy hoạch, tài chính, logistics,... nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn đô thị và đẩy nhanh các dự án trọng điểm. Là năm sẵn sàng các đại dự án trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân,... 2026 có thể nói cũng chính là mốc thời gian mà cả thế giới hồi hộp đón chờ. Khi mọi thứ đã quá thay đổi và có dấu hiệu vượt ngưỡng, từ địa chính trị, tranh chấp thương mại thuế quan, xung đột lãnh thổ cho tới đà tiến không tưởng của khoa học công nghệ... Nhân loại có lẽ đang “thở chậm” lại với hy vọng mọi thứ sẽ dần hạ nhiệt. Có những niềm khắc khoải mong chờ như hòa bình mau đến với Nga và Ukraina, xung đột đẫm máu dân lành tại dải Gaza mau chấm dứt... Không phải ngẫu nhiên mà trang bìa tạp chí Time đã chọn “Các kiến trúc sư AI” là Nhân vật của năm 2025. Theo lý giải của tạp chí của Mỹ 103 tuổi này, thì những “ông trùm” về AI đã “định hướng lại chính sách của Chính phủ, thay đổi những cuộc đối đầu địa chính trị và đưa robot vào từng nhà”. AI trở thành công cụ có ảnh hưởng lớn nhất trong cạnh tranh giữa các cường quốc kể từ khi vũ khí hạt nhân ra đời đến nay. Mới đây thôi còn ngỡ ngàng khi thấy AI vẽ minh họa cho truyện ngắn, thì nay đã quá lạc hậu. Không ít những ca khúc đứng đầu mọi bảng xếp hạng với hàng tỷ người theo dõi là do AI sáng tác. Hàng loạt các phần mềm chat, trợ lý AI, robot đang thay thế dần lao động của não bộ và chân tay con người. Có lẽ đã đến lúc đừng hỏi AI đã làm được gì, mà tự hỏi con người chúng ta còn giữ lại được điều gì cho mình! Trước biến động cũng như tác động va đập ngày càng lớn của thời đại, mỗi con người nhận ra rằng cần tỉnh táo hơn để không bị cuốn đi, không để bị thương tổn, đổ vỡ. Đáp ứng và thích nghi với guồng quay ngày càng nhanh và dồn dập, cũng vừa định vị và phát triển bản thân một cách phù hợp, vững vàng nhất. Một quốc gia cũng vậy, với những chiến lược khôn ngoan, kịp thời, sáng tạo và bền vững. Sẽ rất khó quên năm 2025 - một năm lịch sử với rất nhiều cảm xúc trái ngược. Mới và cũ, mất và được, chia tay và đón nhận, hưng phấn và tâm tư... Đó cũng chính là năm “khởi động, chạy đà”, để đất nước bước vào năm 2026 với quyết tâm hành động và đột phá. Xin được thay một chữ “ta” trong câu thơ Xuân Diệu, “từ ta phút trước, sang ta phút này”. Ta vẫn luôn là ta, là mỗi chúng ta nhưng với tư duy, tầm vóc và trách nhiệm lớn hơn, nặng hơn. Chào 2026, với thật nhiều hy vọng! TRÍ QUÂN Trang mới (Tiếp theo trang 1) Có thể mở đường mà không tốn ngân sách? TS.KTS NGUYỄN ĐÌNH TOÀN Ở Hà Nội, TPHCM và nhiều đô thị lớn khác, nhu cầu mở rộng và hình thành các tuyến đường mới là rất lớn ẢNH: QUỐC THANH Mở đường trong đô thị cũ không chỉ là bài toán giao thông, mà là bài toán tổng hợp về kinh tế, xã hội và quy hoạch. Nếu tiếp tục cách làm cũ, ngân sách sẽ ngày càng chịu áp lực, còn đô thị khó tạo được bước đột phá. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hoàn toàn có thể mở đường mà không hoặc rất ít phải dùng ngân sách, nếu biết khai thác hợp lý giá trị đất tăng thêm do hạ tầng tạo ra.
Khi lịch đã bước sang 2026, lòng người Việt như chậm lại để đợi một khoảnh khắc rất riêng - khoảnh khắc đón năm mới Âm lịch, năm Bính Ngọ. Những ngày cuối năm, khi gió mùa tràn về trên mái phố, tôi chợt nhận ra Tết không chỉ đến bằng những tờ lịch mỏng dần, mà đến bằng nhịp bước. Nhịp bước của người về quê, của người lên đường, của những chuyến xe đêm chở theo cả một năm nặng nhẹ. Tết năm nay mang tên con Ngựa – Bính Ngọ. Chỉ nghe thôi đã thấy gió lộng, thấy một thứ thôi thúc rất khó gọi tên: thôi thúc phải đi, phải chuyển động, phải bước ra khỏi chỗ đứng quen thuộc của mình. Trong mười hai con giáp, Ngựa không phải loài của an nhàn. Ngựa sinh ra để rong ruổi, để vượt dốc, để chịu gió và sẵn sàng bứt phá. Có lẽ vì thế mà ngựa không bao giờ nằm, ngay cả khi ngủ. Tết Ngọ trong ký ức văn hóa Á Đông luôn mang theo một cảm giác đặc biệt: cảm giác của hành trình. Không chỉ là hành trình của đất trời sang xuân, mà là hành trình của con người đi qua chính mình. Trong văn hóa Việt, hình ảnh con ngựa không tách rời lịch sử. Ngựa gắn với những cuộc lên đường lớn của dân tộc. Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt (trong tranh Đông Hồ) bay về trời sau khi dẹp yên giặc ngoại xâm – con ngựa ấy không chỉ chở một vị anh hùng, mà chở theo khát vọng tự do, ý chí quật cường và niềm tin rằng dân tộc này sinh ra để đứng thẳng. Từ ngựa chiến đến ngựa thồ, từ ngựa trạm ngày xưa đến những chuyến tàu, chuyến xe hôm nay, tinh thần “đi để mở đường” xuyên suốt trong tâm thức người Việt. Bởi thế, Tết con Ngựa không chỉ là Tết của đoàn viên, mà còn là Tết của chuẩn bị lên đường. Trên mâm cỗ ngày Tết, bên nồi bánh chưng sôi thầm trong đêm, người ta không chỉ nhắc chuyện năm cũ, mà đã bắt đầu nói về những dự định xa hơn: một công việc mới, một chuyến đi dài, một quyết định không thể trì hoãn thêm. Tết Ngọ giống như một dấu mốc nhắc người ta rằng: Nếu không đi bây giờ, thì sẽ còn đợi đến bao giờ? Bính Ngọ lại là một tổ hợp đặc biệt. “Bính” thuộc Hỏa, “Ngọ” là cực dương trong mười hai địa chi. Lửa gặp gió. Nhiệt gặp động. Một năm năng lượng mạnh, rất mạnh. Lịch cổ từng nhắc: Năm Ngọ dễ thành công với người dám đi trước, nhưng cũng dễ làm người ta kiệt sức nếu chỉ biết chạy mà không biết dừng đúng lúc. Đó là một lời nhắc tỉnh táo, rất cần trong những ngày đầu xuân – khi ai cũng háo hức, nhưng không phải ai cũng biết mình đang đi về đâu. Nhìn ra phố những ngày cận Tết, tôi thấy tinh thần con Ngựa hiện lên rất rõ. Người trẻ đi nhanh hơn, nghĩ lớn hơn, không ngại thử. Người trung niên bớt do dự, bớt lần lữa. Ngay cả những người già, trong ánh mắt cũng có một thứ ánh sáng khác: ánh sáng của việc nhìn lại một hành trình dài, và mong con cháu mình đi tiếp con đường rộng hơn, xa hơn. Tết, trong khoảnh khắc ấy, không chỉ là nghỉ ngơi, mà là tiếp sức. Nhưng văn hóa Tết của người Việt vẫn giữ một nhịp rất riêng: đi xa nhưng không quên quay về. Ngựa có thể phi nghìn dặm, nhưng vẫn nhớ đường cũ. Người Việt đi bốn phương, nhưng Tết là lúc quay lại bàn thờ tổ tiên, cúi đầu trước khói hương, đặt mình vào dòng chảy dài của gia đình và làng xóm. Chính sự cân bằng đó làm nên bản sắc: chuyển động mà không đứt gãy, đổi mới mà không đánh mất gốc rễ. Có lẽ vì thế, Tết con Ngựa không cổ vũ sự vội vàng. Ngựa bền bỉ hơn là ngựa hấp tấp. Ngựa hay nhất là con ngựa biết giữ nhịp. Trong một năm Bính Ngọ đầy năng lượng, điều quan trọng không phải là chạy nhanh bao nhiêu, mà là chạy đúng hướng. Đi xa đến đâu, nhưng vẫn biết đích đến là gì. Khi pháo hoa giao thừa nở trên bầu trời, tôi chợt nghĩ: mỗi năm mới đều trao cho con người một “con ngựa” vô hình. Có người dắt nó đi thong thả, có người phi nước đại, có người lại để nó đứng yên vì sợ hãi. Tết không ép ai phải đi, nhưng Tết Ngọ thì khẽ khàng nhắc: thời gian không đứng đợi. Nếu đã đủ chín, đủ tin, thì hãy lên đường! Gió xuân năm nay có lẽ sẽ mạnh hơn. Nhưng chính trong cơn gió đó, những vó ngựa mới tạo ra đường dài. Và biết đâu, sau một năm Bính Ngọ, khi ngoái lại, mỗi chúng ta sẽ nhận ra mình đã đi thêm được một đoạn – không chỉ trên bản đồ, mà trong chính nội tâm của mình. Tết con Ngựa. Tết của lên đường. Và cũng là Tết của niềm tin rằng: Đi rồi sẽ tới. Trong một khoảnh khắc lặng của mùa xuân Bính Ngọ, khi bước ra khỏi hiên nhà, khỏi những con ngõ quen, người ta sẽ nhận ra tinh thần chiến mã không chỉ nằm ở từng số phận, mà đang lan trong nhịp chuyển động của cả đất nước. Một dân tộc từng đi qua lịch sử bằng những vó ngựa mở đường, hôm nay đứng trước hành trình mới – hành trình của tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển bền vững. Đón Tết năm Ngựa vì thế không chỉ là lời chúc bình an, mà là lời nhắc về trách nhiệm lên đường: đi nhanh nhưng không vội, đi xa nhưng không lạc hướng, đi cùng nhau để tạo nên một hành trình đủ dài, đủ bền và đủ cao cho tương lai Việt Nam: Vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. n NGUYỄN TUẤN KHI NĂM MỚI DƯƠNG LỊCH VỪA SANG. PHỐ XÁ SÁNG ĐÈN SỚM HƠN, NHỊP SỐNG DƯỜNG NHƯ CŨNG NHANH HƠN. ĐÂU ĐÓ, TRONG NHỮNG BUỔI CHIỀU SE LẠNH, TRONG MÙI HƯƠNG TRẦM THOẢNG QUA TỪ MỘT CĂN NHÀ QUEN, NGƯỜI TA VẪN CẢM NHẬN RẤT RÕ: MÙA ĐANG CHUYỂN MÌNH VÀ TẾT ĐANG TRÊN ĐƯỜNG TRỞ VỀ. www.tienphong.vn VĂN HÓA 6 Ngựa đầy sức sống trong tranh của Từ Bi Hồng Tranh ngựa của Lê Trí Dũng Thánh Gióng-tranh dân gian Đông Hồ Bước chân bên thềm năm mới
www.tienphong.vn TỪ LÀN KHÓI RẪY ĐẾN NÉN HƯƠNG ĐẦU TIÊN Từ tinh mơ, khi mặt trời còn e ấp sau những dãy núi trùng điệp, xã miền núi Quỳ Châu (tỉnh Nghệ An) đã thức giấc trong làn hương trầm quen thuộc. Khắp các con đường từ trung tâm xã đến những bản làng xa xôi, mùi trầm lan nhẹ trong gió lạnh cuối đông, len lỏi qua từng mái nhà sàn, từng hiên bếp, mang theo cảm giác bình yên rất riêng của miền sơn cước. Với người dân nơi đây, chỉ cần hương trầm tỏa khói là biết Tết đã thật sự về. Gặp bà Hoàng Thị Sơn (SN 1948), con dâu ông Võ Lê Hải - người đầu tiên tìm đưa cây rễ hương làm hương trầm ở Quỳ Châu - chúng tôi được nghe lại câu chuyện về sự ra đời của nghề hương trầm xứ Phủ Quỳ. Ông Hải sinh năm 1898, quê gốc xã Diễn Ngọc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sinh ra trong gia đình làm muối nghèo khó, ông từng ngày đạp xe thồ muối ngược miền xuôi lên miền Tây xứ Nghệ bán kiếm sống. Những chuyến đi dài ngày đã đưa ông đến Quỳ Châu - vùng đất khi ấy còn hoang vu, dân cư thưa thớt. Ở lại khai hoang lập nghiệp, vợ chồng ông sống bằng nương rẫy. Mỗi mùa phát rẫy, ông gom cỏ dại, rễ cây chất thành đống rồi đốt dọn mặt bằng. Trong một lần đốt rẫy dọn đất, ông bất chợt ngửi thấy mùi thơm dịu lạ tỏa ra từ đám lửa. Không giống mùi gỗ rừng, cũng chẳng phải mùi cỏ khô, hương ấy khiến ông băn khoăn suốt nhiều ngày. Sau nhiều lần lần tìm, phân loại cây cỏ, ông Hải phát hiện mùi thơm đến từ rễ hương - loài cây thân mềm, rễ chùm mọc tự nhiên trong rừng. Từ phát hiện tình cờ ấy, một ý nghĩ táo bạo lóe lên: “Làm hương từ chính thứ rễ rừng này”. Những nén hương đầu tiên được ông làm ra hết sức thô sơ. Rễ hương được giã nhỏ, phơi khô, rồi cuốn bằng giấy viết chữ Nho bán cho bà con trong xóm. Hương cháy nhưng mùi chưa đạt như mong muốn. Không nản, ông tiếp tục mày mò pha trộn rễ hương với vỏ quế, vỏ trầm, bã mía phơi khô. Sau nhiều lần thử nghiệm, mùi hương trầm dịu ngọt, sâu và bền dần hình thành. Sản phẩm nhanh chóng được người dân trong vùng ưa chuộng, nhất là vào dịp Tết, ngày rằm, mùng một. Tiếng lành đồn xa, người dân từ Quỳnh Lưu, Yên Thành cũng tìm lên Quỳ Châu mua hương về dùng hoặc làm quà biếu. Có thời điểm, khách phải xếp hàng chờ cả buổi nhưng vẫn không mua được. Dẫu vậy, ông Hải vẫn chưa dám bỏ hẳn nương rẫy. Những buổi nghỉ trưa trên rẫy, ông tranh thủ quấn hương, mang theo nguyên liệu lên núi. Nghề hương khi ấy vẫn là sinh kế phụ, âm thầm tồn tại bên sườn núi. GIỮ NGHỀ QUA NHỮNG MÙA TRẦM LẮNG Năm 1937 trở thành dấu mốc quan trọng với nghề hương trầm Quỳ Châu. Dịp đầu xuân, vua Bảo Đại du ngoạn hang Bua - thắng cảnh nổi tiếng của địa phương. Giữa không gian núi rừng linh thiêng, nhà vua ngửi thấy mùi hương trầm thơm dịu, khác lạ. Ngài sai tùy tùng tìm hiểu và đặt mua hương của gia đình ông Hải mang về cố đô Huế sử dụng. Từ đó, ông Hải nghỉ hẳn việc nương rẫy, chuyên tâm làm hương. Hương trầm Quỳ Châu bắt đầu được biết đến rộng rãi. Hàng chục hộ dân trong huyện tìm đến học nghề, rồi mở cơ sở sản xuất riêng. Những bó hương theo chân các chuyến xe, chuyến tàu tỏa đi khắp Bắc - Nam. Nhờ nghề hương, kinh tế gia đình ông Hải khấm khá, các con được ăn học đầy đủ. Sau khi ông qua đời năm 1985, nghề được truyền lại cho người con trai cả Võ Minh Châu (SN 1944, đã qua đời hồi cuối năm 2024). “Nghề hương trầm từng trải qua giai đoạn khó khăn. Có thời gian hương trầm Quỳ Châu bị làm nhái nhiều, chất lượng kém, uy tín giảm sút. Nhiều hộ bỏ nghề, tưởng chừng không trụ nổi”, bà Hoàng Thị Sơn (vợ ông Châu) nhớ lại. Trong bối cảnh ấy, gia đình bà vẫn kiên trì bám nghề. Sáu người con được nuôi ăn học trưởng thành từ những nén hương trầm quấn vội giữa trưa nắng hay tối muộn. Đầu những năm 2000, nhu cầu sử dụng hương trầm tăng trở lại, nghề dần hồi sinh. Năm 2007, hương trầm Quỳ Châu được công nhận là làng nghề, đánh dấu giai đoạn phát triển rực rỡ. “Ngày Tết, khách Hà Nội gọi điện đặt liên tục, làm không xuể. Dịp cao điểm, cả gia đình quây quần quấn hương từ sáng đến tối, mỗi giờ làm được 100 - 120 cây, mỗi ngày ra hàng nghìn búp”, bà Sơn nói. Dù vậy, đến năm 2017, gia đình bà dừng sản xuất do các con đều công tác nhà nước. Mỗi dịp lễ Tết, họ chỉ làm vài trăm búp để thắp, như một cách giữ ký ức về nghề xưa. KHÓI TRẦM VẪN BAY Những ngày cuối năm, Quỳ Châu rộn ràng hơn thường lệ. Bà Trần Thị Châu (chủ một cơ sở sản xuất hương trầm) cho biết, để kịp cho vụ hương Tết, bà đã huy động hơn 10 lao động thời vụ làm việc liên tục để kịp giao 50.000 que hương trầm đặt trước. Hương trầm Quỳ Châu có nhiều loại, chiều dài từ 40cm đến 2m, bán theo búp hoặc đóng gói, giá 20.000 - 60.000 đồng/sản phẩm. Ngoài rễ hương là nguyên liệu chính, các phụ liệu như vỏ quế, hồi, thảo quả, đinh hương, vỏ trầm, bã mía đều phải được phối trộn chuẩn xác. Hương trầm Quỳ Châu được làm hoàn toàn thủ công, lực lượng đảm nhiệm công việc này chủ yếu là phụ nữ. Thị trường tiêu thụ chủ yếu ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, một số tỉnh thành phía Bắc. “Quấn lỏng thì rơi bột, quấn chặt quá hương khó cháy. Nghề này nhìn đơn giản nhưng rất kén tay. Mấy năm gần đây, một số người Việt ở Đức, Tiệp Khắc… cũng đặt hàng hương trầm gửi sang để dùng vào dịp Tết Nguyên đán”, bà Châu chia sẻ. Phát triển là vậy, nhưng người làm hương trầm vẫn đối mặt với nỗi lo thiếu nguyên liệu. Rễ hương - “linh hồn” của nén hương - hiện diện tích còn ít, không đủ sản xuất, phải nhập từ Quỳnh Lưu, Thanh Chương. Những lúc khan hiếm, giá nguyên liệu tăng cao, đẩy chi phí sản xuất lên theo. Trước thực tế đó, xã Quỳ Châu đang quy hoạch vùng trồng rễ hương, đặt mục tiêu trong 5 năm tới chủ động được khoảng 70% nguyên liệu, tạo nền tảng cho làng nghề phát triển bền vững. Từ làn khói đốt rẫy năm xưa đến những con đường ngập mùi hương mỗi độ Tết về, hương trầm Quỳ Châu không chỉ là sản phẩm hàng hóa mà còn là kết tinh của thiên nhiên, lao động và ký ức cộng đồng. Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng nghề dần mai một, khói trầm vẫn lặng lẽ tỏa hương, giữ lửa cho một nghề xưa và níu lại hồn cốt ở miền Tây xứ Nghệ. n THU HIỀN NGÀY CUỐI NĂM, KHI SƯƠNG SỚM CÒN BẢNG LẢNG TRÊN TRIỀN NÚI, MÙI HƯƠNG TRẦM ĐÃ LAN TRONG GIÓ, GỌI TẾT VỀ VỚI TỪNG NẾP NHÀ. THỨ MÙI DỊU NGỌT, KHÔNG GẮT, KHÔNG NỒNG, LẶNG LẼ QUYỆN VÀO KHÔNG GIAN NÚI RỪNG, ĐÁNH THỨC KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG NGHỀ TRĂM NĂM TUỔI Ở MIỀN TÂY XỨ NGHỆ. VĂN HÓA 7 Khói trầm tỏa hương gọi Cây rễ hương - nguyên liệu làm hương trầm ở Quỳ Châu Ngày Tết, nén hương trầm được thắp lên không chỉ để dâng cúng tổ tiên, mà còn là cách người Việt gửi gắm lòng thành kính, ước vọng bình an cho một năm mới. Làn khói trầm dịu ngọt thanh lọc không gian, xua đi điều cũ, đón sinh khí mới. Trong ký ức nhiều người, mùi hương trầm quyện với khói bếp, bánh chưng đã trở thành dấu hiệu rất riêng của Tết đoàn viên. Giữ hương trầm ngày Tết cũng là giữ lại nếp nhà, nếp văn hóa truyền đời. Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Quỳ Châu cho hay: “Toàn xã hiện có 38 hộ theo nghề hương trầm, trong đó có 6 hộ đạt OCOP 3 sao (Chương trình mỗi xã một sản phẩm). Nghề làm hương trầm đã giải quyết việc làm cho gần 80 lao động thường xuyên và khoảng 400 lao động thời vụ. Nhờ phát triển ổn định nghề làm hương truyền thống, kinh tế của bà con dần ổn định và đời sống được nâng cao. Thời gian tới, xã tiếp tục xây dựng thương hiệu OCOP, phát triển và mở rộng vùng nguyên liệu trồng cây rễ hương để cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề"... Bà Hoàng Thị Sơn kể về nghề làm hương Người dân Quỳ Châu sản xuất hương trầm
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==