ĐÚNG VỚI THỜI ĐẠI, ĐÚNG VỚI XU THẾ Nỗi buồn chiến tranh ra đời năm 1987, xuất bản lần đầu ở Việt Nam năm 1990, được Hội Nhà văn Việt Nam vinh danh năm 1991, cùng với Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường. Cả ba tác phẩm này cùng vinh dự có tên trong 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn tiêu biểu sau ngày thống nhất, vừa được vinh danh hôm 30/11. Nhà văn Dương Hướng tràn ngập niềm vui trong buổi lễ vinh danh nhưng ông ngậm ngùi khi hai bạn văn thân thiết là Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp đều có tác phẩm được vinh danh lần này đã về bên kia thế giới. Tác giả Bến không chồng xúc động với cái ôm của Bảo Ninh trong buổi lễ. Ông viết trên trang cá nhân: “Nhà văn Bảo Ninh với mái đầu trắng phơ ôm lấy tôi chụp bức ảnh lưu niệm mà thấy xốn xang trong lòng của Nỗi buồn chiến tranh”. Hơn 30 năm trôi qua, Nỗi buồn chiến tranh đi qua bao thác ghềnh, nếm trải đủ ngọt và đắng từ dư luận. Nhà văn Dương Hướng bức xúc thay cho đồng nghiệp. Ông chia sẻ với Tiền Phong: “Không phải bây giờ mà ngay từ hồi trao giải đã vậy. Đây là sự lặp lại y nguyên tình trạng của ngày mới trao, hơn 30 năm trước. Đến bây giờ vẫn còn rất nhiều ý kiến xung quanh Nỗi buồn chiến tranh khiến tôi thấy như một trò cười xót xa: Vì sao đến hôm nay chúng ta vẫn nghĩ như mấy chục năm về trước? Với tôi, Nỗi buồn chiến tranh đứng trên tất cả các tác phẩm văn học được vinh danh vừa rồi. Tác phẩm đã đi khắp thế giới và được công nhận mà sao ở nơi nó sinh ra người ta vẫn giữ đánh giá ấu trĩ ấy? Đó là nỗi buồn của thời đại”. Chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam gợi ý, nên đọc văn bản tiểu thuyết nói riêng, văn bản văn học nói chung theo cách khác. Tác phẩm được vinh danh không phải khẩu hiệu. Một tác phẩm văn học giá trị mang nhiều yếu tố: thân phận con người, nỗi đau của chiến tranh… “Nỗi buồn chiến tranh mang tư tưởng nhân loại. Đất nước ta đang triển khai mạnh mẽ chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc, trong đường lối ngoại giao Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới. Vì vậy, đánh giá tác phẩm văn học xin hãy nhìn thoáng ra, đừng để những hận thù làm u ám cuộc sống này, làm đau nhà văn và tác phẩm”, ông nói. Nhà văn Dương Hướng khẳng định: “Vinh danh Nỗi buồn chiến tranh là bước tiến, là sự sáng suốt, đúng với thời đại, đúng với xu thế bây giờ”. Một nhà thơ xin giấu tên nhìn nhận quanh ồn ào Nỗi buồn chiến tranh ở khía cạnh tích cực: “Theo tôi và đa số độc giả tiểu thuyết của Bảo Ninh là tác phẩm hay về văn chương và tính nhân văn. Song giá trị của nó còn lớn hơn thế ở một điểm khác. Đó là góc nhìn cuộc chiến. Thế giới từ lâu đã có cách nhìn như vậy, nên Nỗi buồn chiến tranh không phải mới. Cho đến thời điểm hiện nay, tư tưởng Nỗi buồn chiến tranh cũng không còn xa lạ với người Việt. Việc nhìn nhận và tôn vinh tiểu thuyết vừa rồi không chỉ là một sự ghi nhận một tác phẩm văn học, mà còn là chấp nhận một cách nhìn. Nhưng có người chấp nhận thì cũng sẽ có người không chấp nhận. Theo tôi, cuộc tranh luận này chứng tỏ chúng ta đã vượt qua được tình trạng cảm tính thông thường trong đánh giá văn học lâu nay”. Nhà văn Dương Hướng cũng cho rằng, tác phẩm càng có tranh luận cao thì càng tạo sự lan toả rộng. Ngược dòng thời gian, nhà phê bình văn học Ngô Thảo nhớ lại: “Khi Nỗi buồn chiến tranh được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, Tổng biên tập của tờ The Washington Post sang Việt Nam, có gặp tôi và phỏng vấn. Tôi đã nói rằng: Nỗi buồn chiến tranh được công nhận chứng tỏ nền văn học của chúng tôi đã dân chủ hơn, cởi mở hơn, chấp nhận tiếng nói của mọi người đi qua cuộc chiến”. Dịch giả Lê Quang chia sẻ, ngay từ khi đọc tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh lần đầu, ông đã tin chắc đây là tiểu thuyết “ăn đứt” Erich Maria Remarque (cha đẻ Phía tây không có gì lạ - PV). Mấy chục năm sau ông vẫn nghĩ thế. “Chưa ai viết về chiến tranh Việt Nam ngấp nghé đến chân Nỗi buồn chiến tranh”, Lê Quang đánh giá. Dịch giả văn học Đức hàng đầu hiện nay tiết lộ: “Tôi đã từng hẹn với giám đốc Viện Goethe (ông ấy biết tiếng Việt) cùng dịch Nỗi buồn chiến tranh từ năm 2004, lúc đó Bảo Ninh đã bán bản quyền 7 năm cho một nhà xuất bản ở Đức nhưng nhà xuất bản đó không dịch nhưng cũng không “nhả” ra trước khi hết hạn. Thế là đành lỗi hẹn với tiểu thuyết của Bảo Ninh”. NÔNG HỒNG DIỆU 9 n Thứ Năm n Ngày 4/12/2025 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ mua ma túy … rồi đâm ra lún dần”, X. cúi đầu. Gần 2 năm chìm trong khói trắng, X. kiệt quệ cả thể chất lẫn tinh thần. Năm 2024, sau khi bị cơ quan chức năng phát hiện sử dụng ma túy đá, X. được đưa đi cai nghiện bắt buộc. “Nếu ngày đó không nghe lời bạn, chắc cuộc đời em đã rẽ sang trang khác”, X. nói đầy tiếc nuối. Câu chuyện của A.L. (19 tuổi, xã Đăk Mar) cũng buồn chẳng kém. Bị bạn bè lôi kéo, L. nhanh chóng trượt dài vào ma túy. Đêm la cà, ngày ngủ vùi. Không khí trong nhà lúc nào cũng nặng nề. Khi L. bị đưa đi cai nghiện, mẹ em bà Y.Đ. mất ngủ hàng tháng vì lo và thương con. “Nhà đã nghèo, giờ lại thiếu người đỡ đần. Tôi chỉ mong nó cai được để về làm lại cuộc đời”, bà Đ. nghẹn giọng. NHỮNG CUỘC TRỞ VỀ TỪ VÒNG XOÁY TĂM TỐI Hơn 10 năm sau khi cai nghiện thành công, mỗi khi nhớ lại những ngày đầu trong trại, anh N.T. vẫn rùng mình. “Hai tuần đầu tôi chỉ muốn trốn về. Cơ thể run rẩy, mất ngủ, buồn nôn… kinh hoàng lắm! Có lúc tôi đập đầu vào tường, chỉ muốn chết đi vì không thể nào chịu nổi”, anh kể. Nhờ sự hỗ trợ tận tâm của cán bộ trại, anh từng bước vượt qua cơn vật vã. Cuộc chiến chống lại chính bản thân kéo dài 24 tháng. Ngày trở về, tưởng đã thoát được “bóng ma” ma túy, nhưng anh T. phải đối mặt với một thực tế khác, đó là sự xa lánh của hàng xóm, cái nhìn dè chừng của mọi người, những lời từ chối khi đi xin việc. “Lúc đó đám bạn nghiện vẫn rủ rê quay lại sử dụng ma túy. Tôi chông chênh lắm. Nhưng nghĩ đến mẹ, nghĩ đến những ngày vật vã cắt cơn, tôi tự nhắc mình phải sống khác”, anh T. nói. Từ chỗ bị từ chối, anh kiên trì tìm việc, làm thuê đủ nghề. Nhờ sự cay nghiệt của quá khứ và lòng quyết tâm, hôm nay anh đã là tài xế container, thu nhập ổn định, sống đàng hoàng. “Tôi có ông bạn đi cai nhiều lần mà không dứt được, cuối cùng chọn cái chết để thoát khỏi ma túy. Nghĩ đến nó, tôi càng sợ ma túy hơn. Đừng thử dù chỉ một lần…”, anh T. nhắn nhủ. Giống anh N.T., A.X. cũng trải qua những ngày đầu cai nghiện đầy giằng xé. Vừa thèm thuốc, vừa nhớ nhà. Mỗi đêm sau giờ lao động trị liệu, X. nằm nghĩ đến người mẹ gầy gò trong căn nhà xiêu vẹo, đến những giọt mồ hôi mẹ đổ ra trong khi mình chìm vào nghiện ngập. “Có lúc em muốn bỏ trốn khỏi trung tâm, chỉ để được về ôm mẹ. Vì ma túy, em tự hủy hoại sức khỏe của chính mình và làm mẹ phiền lòng, em hối hận lắm. Nhiều đêm thức trắng, em tự hứa phải cố gắng cai nghiện, làm lại cuộc đời”, X. trải lòng. Ngày trở về, X. chủ động cắt đứt liên lạc với bạn nghiện. Trong căn nhà chật hẹp, thỉnh thoảng cán bộ Công an phường Đăk Bla lại ghé thăm, động viên, kiểm tra định kỳ để kịp thời hỗ trợ X. vượt qua cám dỗ. Mỗi lần như vậy, X. thấy mình có thêm động lực. Phía sau mỗi người nghiện là một gia đình tan nát. Những người mẹ mất ngủ, những đứa em tủi thân, những bữa cơm thiếu vắng tiếng cười. Nhưng phía trước nếu đủ quyết tâm họ vẫn có thể bước tiếp, làm lại cuộc đời. Những người như T., X. đã từng “lạc lối”, từng gục ngã, nhưng họ đã đứng dậy, tự bước ra khỏi bóng tối. Phía sau họ là những bài học cay đắng, phía trước là cơ hội, dù nhỏ nhoi để đổi đời. N.N Bà Y.Đ. mong muốn con trai mình cai nghiện ma túy thành công Cán bộ Công an phường Đăk Bla đến thăm, động viên A.X Trung tá Nguyễn Phú - Phó Trưởng Công an phường Đăk Bla chia sẻ, Công an phường cũng thường xuyên đến thăm hỏi, động viên và nhắc nhở các đối tượng liên quan đến ma túy trên địa bàn. Cùng với công tác tuyên truyền, động viên, hằng tháng, chúng tôi mời các đối tượng lên xét nghiệm về chất ma túy trong cơ thể, quản lý để đánh giá đúng thực trạng, tình hình, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống ma túy. Ồn ào quanh tác phẩm được vinh danh còn cho thấy nỗi buồn trong thời mạng xã hội phát triển. Rất nhiều chỉ trích, kết tội, thậm chí lăng mạ thiếu văn hóa với cha đẻ Nỗi buồn chiến tranh nhan nhản trên mạng xã hội, đặc biệt những bình luận có tính sát thương quanh bức ảnh nhà văn Bảo Ninh lên nhận vinh danh. Bảo Ninh không lên tiếng như bao lần “giông bão” tấn công ông. Nhưng bạn văn của ông, nhà văn Phạm Ngọc Tiến, chỉ nói một lời: “Hãy sống và viết được như Bảo Ninh”. Tác giả Bến không chồng phản ứng gắt trước những bình luận “bẩn” hướng về Bảo Ninh. “Một số bình luận chửi đồng và chửi cùn rất vô văn hóa. Không cấm tự do tranh luận nhưng tranh luận phải có lý, có tình, có văn hóa”, Dương Hướng nói. Ông cũng chỉ ra tình trạng có những người chưa từng đọc Nỗi buồn chiến tranh vẫn “ném đá” phong trào. Ngay cả một số nhà văn trẻ cũng thú nhận, họ đã nghe danh Bảo Ninh và biết đến Nỗi buồn chiến tranh nhưng chưa từng đọc bao giờ. Nỗi buồn chiến tranh không thuộc dòng sách “bán chạy” ở ta. Có độc giả chia sẻ từng đọc Nỗi buồn chiến tranh nhưng không dám đọc lại lần hai vì ám ảnh. Lại có người nói, chỉ đọc đến giữa chừng đành bỏ cuộc vì không khí bức bối, khó chịu. Sách là “món ăn tinh thần” có thể hợp với người này, không hợp với người kia. Những tác phẩm nặng kí như sách giành Nobel đọc không vào cũng là chuyện bình thường, chỉ không bình thường khi ai đó sẵn sàng “ném đá” nhiệt tình mà chưa hề dành thời gian khám phá tác phẩm. N.H.D Tranh luận cũng cần văn hóa Nhà văn Bảo Ninh (phải) và nhà văn Dương Hướng
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==