8 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Năm n Ngày 4/12/2025 Khi Nỗi buồn chiến tranh được gọi tên trong 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn tiêu biểu sau ngày thống nhất, mạng xã hội lại bùng nổ tranh luận. Nhà văn Dương Hướng, Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam cảm thán: “Y như hồi tiểu thuyết của Bảo Ninh ẵm giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cách đây hơn 30 năm. Thật đáng buồn”. MỘT TÁC PHẨM CỰC HIẾM CỦA MỘT NHÀ VĂN CHÂU Á Đánh giá của nhà văn Phạm Ngọc Tiến không hề cảm tính (do mối quan hệ thân thiết ngoài đời) mà hoàn toàn trên cơ sở thực tế. Nỗi buồn chiến tranh nhận được đánh giá rất cao từ những tên tuổi nổi tiếng ở nước ngoài. Không thể không nhắc tới bài viết ca ngợi Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc Diêm Liên Khoa, được tiến sĩ văn học Bùi Thiên Thai dịch sang tiếng Việt, từng gây chấn động làng văn Việt. “Tôi với tư cách một tiểu thuyết gia đã có đến 26 năm trong quân đội, đọc xong tiểu thuyết này, cảm giác mãnh liệt nhất, đó chính là giả sử ngay từ cuối những năm 80 hoặc muộn hơn một chút vào đầu những năm 90, chúng ta có thể dịch Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Trung giống như Vòng hoa dưới núi của nhà văn Trung Quốc Lý Tôn Bảo vừa xuất bản hồi đầu những năm 80 đã gần như đồng thời được dịch sang tiếng Việt, thì nhận thức của chúng ta đối với văn học Việt Nam sẽ không đến nỗi phong bế và hạn hẹp như hôm nay; văn học quân đội Trung Quốc cực kỳ cũ kỹ và trì trệ hôm nay cũng nhất định sẽ không bảo thủ, bó chân và tụt hậu như vậy”, nhà văn Diêm Liên Khoa viết. Tác giả Kiên ngạnh như thủy viết tiếp: “Nghiền ngẫm Nỗi buồn chiến tranh với tư cách là một tiểu thuyết chiến tranh phương Đông trong bối cảnh văn học thế giới và so sánh nó với dòng văn học chiến tranh mà chúng ta có thể đọc được của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, rõ ràng Nỗi buồn chiến tranh đánh dấu tầm cao mới của một thứ văn học mới. Một tác phẩm cực hiếm của một nhà văn châu Á phương Đông, hiếm có trong những miêu tả, nhận thức, phê phán thẩm mĩ đối với chiến tranh, hiếm có trong những lý giải và tình yêu đối với con người, những suy tư về nhân tính, hiếm có cả trong biểu đạt nghệ thuật - một phương diện cá tính nhất, quan trọng nhất đối với một nhà văn”. Giáo sư văn chương, kiêm dịch giả Đức Gunter Giesenfeld, người từng dịch tác phẩm của Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Thiệp, Thùy Trâm sang tiếng Đức (qua bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp) cũng đã dịch Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Đức, cuốn Die Leiden des Krieges. Die Leiden des Krieges sau đợt phát hành ở Đức tháng 6/2014 đã đứng đầu bảng xếp hạng 7 cuốn sách hư cấu xuất sắc quý I/2015 của Litprom, Hiệp hội văn hóa châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh tại Đức. Gunter Giesenfeld so sánh Nỗi buồn chiến tranh với Phía tây không có gì lạ và đánh giá, Nỗi buồn chiến tranh thậm chí còn hay hơn Phía tây không có gì lạ. Ông kết luận: “Tiểu thuyết của Bảo Ninh thuộc hàng kinh điển thế giới ở dòng văn chiến tranh”. Nhiều độc giả Việt đã tán đồng với nhận định của dịch giả Gunter Giesenfeld. Một độc giả nhìn nhận: “Nỗi buồn chiến tranh rất đáng đọc, đọc để khóc và hiểu một cái nhìn khác về cuộc chiến”. Một người lính đi qua khói bom chia sẻ: “Tôi là một cựu chiến binh, đang sống ở Tây Nguyên. Đọc Nỗi buồn chiến tranh như đọc lại cuộc đời mình”. Nhận định về Bảo Ninh, nhà văn Phạm Ngọc Tiến viết: Ông “có lẽ là nhà văn Việt Nam có dấu ấn nhất trong việc mang văn học Việt ra ngoài biên giới một cách hệ thống và được thế giới đón chào trọng thị trong suốt một quãng thời gian dài hai mấy năm bằng cuốn tiểu thuyết duy nhất Nỗi buồn chiến tranh”. Nhà văn Bảo Ninh không “chơi” mạng xã hội. Nhiều năm nay, ông sống lặng lẽ, đúng như nhà văn Phạm Ngọc Tiến viết: “Bây giờ hiếm khi ai có thể gặp được Bảo Ninh. Ngay cả giao tiếp điện thoại cũng khó khăn với anh. Một Bảo Ninh già nua và lánh mình đã trở nên quen thuộc với mọi người. Rượu cũng không còn là thứ hấp dẫn được anh. Bảo Ninh từ chối mọi cuộc rượu. Thỉnh thoảng gặp anh ở một chỗ nào đấy thì đó là hãn hữu và bất ngờ”. Không chỉ tranh luận quanh tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, có người thấy buồn khi những cái tên lừng lững trong văn học Việt Nam hiện đại không được vinh danh như Nguyên Ngọc, Nguyễn Duy, Bùi Ngọc Tấn, Hoàng Quốc Hải, Phạm Tiến Duật… Nhà văn Dương Hướng đáp lại: “Nỗi buồn này chẳng của riêng ai. Hội đồng thẩm định cũng có cái khó khi chỉ được chọn 50 mà tác phẩm của các tác giả trải dài cả nửa thế kỷ”. Nhà văn Bảo Ninh (bìa trái) cùng các tác giả trong lễ vinh danh hôm 30/11 NỖI BUỒN CHIẾN TRANH: Xứng đáng được vinh danh Từ những buôn làng heo hút đến các khu phố nhộn nhịp, dấu chân của ma túy vẫn in hằn những nỗi đau và hành trình trở về của những người lầm lỡ trở thành cuộc chiến dai dẳng với chính bản thân mình. CÁM DỖ TỪ NHỮNG LẦN HÚT ĐẦU TIÊN Sau nhiều năm cố quên đi quá khứ, anh N.T. (36 tuổi, xã Đăk Pék, tỉnh Quảng Ngãi) mới dám mở lòng, kể lại quãng thời gian dài chìm trong ma túy của mình. Giọng anh trầm xuống, đôi mắt đỏ hoe: “Ròng rã 7 năm trời tôi tiêm chích heroin, để lại bao buồn phiền cho gia đình”. Năm 2005, anh N.T. bước vào tuổi 16, cái tuổi muốn chứng tỏ bản thân, muốn được bạn bè xem là “ngầu”, là “chịu chơi”. Anh bỏ học, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên răn của thầy cô, người thân. Những cuộc vui kéo dài triền miên và ma túy xuất hiện như một thứ “gia vị” khiến anh thấy mình mạnh mẽ, trội hơn đám bạn. “Mỗi lần dùng thuốc, tôi cứ tưởng mình oách lắm”, anh T. kể. Từ vài lần chơi thử cho biết, T. rơi vào nghiện lúc nào không hay. Từ hút chuyển sang chích. Ngày nào cũng vậy, T. mang tiền đi mua kim tiêm, nước cất. “Bao nhiêu tiền làm thuê tôi đổ hết vào ma túy. Người gầy trơ xương, thiếu sức sống, nhưng đã nghiện rồi thì không thể nào dứt ra được”, anh T. nói. Năm 2012, T. sốc thuốc sau khi sử dụng quá liều. Người dân phát hiện tưởng anh đã chết, báo công an. Từ cột mốc ấy, anh được đưa đi cai nghiện bắt buộc, một cú dừng mà anh gọi là “cứu mạng”. “Nếu lúc đó người ta không phát hiện kịp, chắc tôi đã nằm xuống rồi. Cú sốc thuốc đó như cho tôi thấy mình đã đi quá xa. Được đưa đi cai nghiện bắt buộc lúc ấy đúng nghĩa là cứu mạng tôi. Chậm thêm một chút chắc giờ tôi không còn đứng đây mà kể lại nữa”, anh T. nói, giọng lạc hẳn đi. Anh T. kể tiếp, nhiều lần gia đình bất lực khi nhìn thấy kim tiêm trong túi quần. Dẫu biết gia đình rất phiền muộn, nhưng không cưỡng lại được những cơn nghiện, anh thậm chí đi ăn trộm, cướp giật để lấy tiền mua ma túy. Người mẹ khóc ròng. Hàng xóm xa lánh và cảnh giác. Ngày đó, anh là nỗi đau của cả gia đình. Cũng giống N.T., cuộc đời của A.X (21 tuổi, trú phường Đăk Bla) rẽ sang con đường đen tối chỉ vì một lần nghe lời bạn. Là con thứ 7 trong gia đình nghèo 8 anh em, bố mất sớm, mẹ lam lũ lo từng bữa ăn cho cả gia đình. Học hết lớp 9, X. nghỉ học theo bạn vào TP.HCM làm công nhân. Những lần tăng ca làm đêm, khiến X. mệt rã rời vì phải thức khuya. Lúc đó, X. bị bạn bè dụ dỗ sử dụng ma túy đá “cho khỏe để làm”. Thiếu hiểu biết, thiếu người định hướng, X. thử và nghiện nhanh đến mức không hiểu chuyện gì xảy ra. “Ban đầu đám bạn cho sử dụng miễn phí. Dùng vào thì khỏe khoắn, tỉnh táo, làm cả đêm không thấy mệt. Mấy lần sau hết miễn phí, em phải tự bỏ tiền ra mua, bao nhiêu tiền làm được em dành gần hết vào việc Công an xã Măng Đen (tỉnh Quảng Ngãi) bắt giữ nhóm đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại một homestay trên địa bàn nNGUYỄN NGỌC PHÓNG SỰ Những cơn “phê” chớp nhoáng, những phút ngông cuồng tuổi trẻ, nông nổi đã đẩy nhiều thanh niên ở Quảng Ngãi lao vào vòng xoáy ma túy. Khi tỉnh lại, trước mắt họ chỉ còn là gia đình tan tác, sức khỏe tàn phá và tương lai bị bóng tối nghiện ngập nuốt chửng. Tìm lại mình từ bóng tối
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==