Hơn tám mươi năm trước, ngày nội dắt díu “bầu đoàn thê tử” về cắm sào, che chòi lá ở mé kinh cùng, bãi đất mé kinh chỉ là một bãi trống. Gió lộng tứ bề, nhất là mỗi lần lụt dâng, gió kết bạn với nước kéo nhau giỡn ì oạp, anh ách đêm ngày bên vách lá. Mùa mưa, gió thông thống đem mưa luồn vào ràn rạt trong chòi. Thương căn chòi nhỏ xíu rúm mình trong mưa gió, thương cả nhà vất vả với tấm bạt hứng mưa mỗi lần trời nổi cơn thịnh nộ. Nội xin mấy mầm xanh trồng cặp mé kênh, mong cây mau lớn để tựa nương bóng mát. Cũng trầy trật mất mấy năm mầm xanh mới vươn cao. Là qua mấy bận sống chết khi lụt dâng, nhiều cây non không chịu nổi, rụi lá, rồi lụi tàn… Lụt qua, nội lại cần mẫn ươm mầm mới. Duy chỉ có một chồi xanh bén rễ, vươn ngọn ngay lần gieo trồng đầu tiên, kiên cường chống chọi mấy mùa lụt lớn, sinh sôi nảy nở thành lùm, thành bụi lúc nào chẳng ai nhớ. Bụi tre ở góc hè đã trở thành người bạn quan trọng. Chùm rễ giữ đất bờ không sạt lở xuống kênh. Tàn tre rũ bóng mát mỗi trưa oi ả, ru hời cánh võng. Thân tre kết nhau lại chắn những cơn sóng dữ, mùa lụt theo gió bất ngờ đánh thốc vào vách chòi. Lưng tre dang ra hứng những cơn mưa ràn rạt quất ngọn như muốn đè bẹp mái lá. Trong lùm tre, lẫn trong gai nhọn, những gốc tre già cứng cội, những măng non mới hé đất nhìn ra là những miếng chai lọ, lu hũ… Chúng đã tận hiến một đời giờ bị vỡ ra, nằm lẫn trong gai tre để ngủ một giấc dài, bảo đảm không bàn chân trẻ thơ nào phải tươm máu vì đạp phải. Từ chòi lá đầu tiên thoi loi trên bãi trống, bụi tre tổ chia cây con đi dựng nhà, một rồi hai, rồi thành xóm, thành làng. Từ bụi tre đầu tiên ấy, những cây con đã đi ra khắp bốn phía, thành nhiều bụi tre, thành hàng, lũy tre bao bọc xóm làng. Xóm toàn những người ruột thịt. Chủ của những ngôi nhà nơi xóm nghèo ấy đã từng chia nhau miếng cơm cháy, cùng vét mẻ kho quẹt dưới chòi lá. Bờ tre tổ vẫn ở đó rì rào ca hát. Để những đứa trẻ đời sau mỗi lần học đến bài “Tre Việt Nam” (Nguyễn Duy) là ôm tập ra cánh võng sau hè, nhìn bờ tre mà ê a đọc: “Tre xanh xanh tự bao giờ…”. Theo thời gian, con cháu ngày càng đông đúc. Đứa gắn bó với xóm nghèo, đứa chấp chới bay tới những miền xa lập nghiệp, mưu sinh. Kẻ nghèo, người khá giả nhưng mỗi năm đôi lần vẫn xúm xít về chòi lá năm xưa – giờ được nâng lên thành nhà cấp bốn – để chén tạc chén thù, chén chú chén anh mỗi lần lễ, Tết. Cũng có khi họp mặt nhau trong những ngày không hề vui… Thời gian trôi con cháu ngày càng lớn, người lớn ngày càng già. Những thành viên mới của xóm chào đời. Và một vài cựu thành viên về với đất. Những ngày họp mặt vì sự mất mát ấy, cháu con lặng lẽ chia nhau công việc để chu tất cho những chuyến đi vào cõi thiên thu. Bụi tre tổ run rẩy trong những ngày đau đớn. Ngày bà nội ngất đi, tỉnh dậy mấy lần khi ôm thi hài người con trai không nguyên vẹn vì bom nổ… Ngày bà ra đồng ông ngơ ngẩn nhớ quên… Ngày ông nhắm mắt xuôi tay trong sự chới với của xóm nghèo như mất đi cội rễ… Ngày bác lớn qua đời sau những tháng ngày đau đớn, chống chọi cùng căn bệnh dữ… Tre thành “chứng nhân lịch sử” của xóm nghèo. Ngày chào đời những đứa trẻ, ngày chúng đậu đại học, ngày chúng có việc làm, ngày dựng vợ gả chồng, rồi có đứa lên máy bay đi tìm tương lai ở chân trời xa lạ. Những ngày ấy tre vi vu, rộn rã. Tám mươi năm, xóm làng bao nhiêu thay đổi. Những hàng tre bao bọc xóm làng dần dần biến mất. Duy bờ tre tổ vẫn ở đó lặng thầm chở che, nhẫn nại tỏa rợp bóng một góc hè. Rào rào trút lá mỗi lần gió rần rần lùa qua, xào xạc khua mỗi mùa gió bấc. Lá rụng đầy sân, phủ đầy nóc Nhà tổ. Người đàn ông lo hương khói trong nhà lâu lâu lại bắt thang lên, lùa lá rụng trên mái xuống sân. Vợ ông mỗi ngày gom lá vun thành đống đốt. Khói nồng nồng, theo gió hoàng hôn chập choạng làm thành mùi riêng của xóm. Những đứa trẻ sinh ra trong nhà tổ lớn lên theo từng mùa khói, quen với hình ảnh bờ tre trút lá, mẹ vun lá đốt mỗi hoàng hôn. Quen với tiếng càm ràm: “Lá tuôn đầy nóc như vầy mái nhà mau mục quá…”. Tất cả những thứ ấy quen thuộc, gần gũi bao bọc lấy những đứa con như khí trời, như hơi thở. Thời gian trôi, mùa lụt cũng không còn. Tường vôi không biết cảm giác sóng ì oạp vỗ vào mình của vách lá. Bờ tre biết có nhớ cảm giác dầm chân trong lụt, cành lá vươn cao kiêu hãnh chở che? Mà dù có nhớ cũng chẳng thể tìm lại được. Câu, lưới, lợp, lờ bị lãng quên theo mùa lụt. Có những quy luật cuộc sống kéo người ta trôi đi. Có những quy luật không ai thoát được. Có một khoảng thời gian, Nhà tổ trở nên lặng lẽ lạ thường. Thời gian hoang hoải, ngơ ngác trong thứ nỗi đau chờ ngày bùng phát. Lá tre rụng phủ kín sân sau, tuôn đầy mái nhà. Không thấy người đàn ông leo lên lùa lá, không thấy vợ ông vun lá đốt. Những đứa con vội vã ghé nhà rồi lại biến mất. Bờ tre những ngày ấy đứng sững. Trời ngột ngạt như quên thả gió. Tất cả như đợi chờ một ngày giông bão nổ ra. Rồi ngày ấy cũng đến… Bờ tre run rẩy, đau đớn, bàng hoàng, rùng rùng ngã xuống. Từng cây, từng cây một… Một ngày dài quằn quại trong tiếng rú kinh hoàng của cưa máy, trong những âm thanh thê thiết vọng ra từ Nhà tổ. Bờ tre kết thúc hơn tám mươi năm gắn bó, vì nhiều lý do. Lý do lúc này là vì người ta cần một lối đi đủ rộng cho một đoàn người. Đoàn người ấy giúp sức và nối nhau lặng lẽ, đưa tiễn một người không còn có thể tự ra đồng. Người đàn ông đứng đầu Nhà tổ trước khi ra đồng đã có tâm nguyện, muốn ở phía sau nhà để ngày ngày nhìn vào coi ngó Nhà tổ. Có lẽ vì ông lo những đứa con gái của mình không tròn được vai hương khói, như ông đã từng. Người đàn ông giữ Nhà tổ, điểm tựa tinh thần của xóm nhỏ ấy ra đi, an nghỉ giấc ngàn thu, sau những tháng ngày chập chờn “giấc không quê” ở các bệnh viện lớn xứ người, chống chọi với căn bệnh quái ác. Từ đó, xóm hụt hẫng vì mất một điểm tựa. Nhà tổ tiêu điều vì mất một bờ tre. Người trong Nhà tổ thấm thía nỗi trống vắng, khi mất đi bóng mát chở che… Oi nồng buổi trưa, nắng quái buổi chiều bức đến ngộp người, nhìn phía nào cũng thấy chói chang. Gió tạt, mưa lùa lạnh run góc bếp, ngó phía nào cũng thấy thâm u. Nhớ lắm bờ tre gồng mình trong giông bão, dang lưng trong nắng hè cho Nhà tổ tựa nương. Thương lắm một bóng dáng gầy gò, dãi nắng dầm mưa khuya sớm, như nhận hết bao cay đắng cuộc đời để bảo bọc mái ấm dưới bờ tre… Bờ tre đã mất, người cũng đi rồi. Chỉ nỗi đau, nỗi trống vắng còn ở lại. Mỗi buổi chiều người đàn bà vẫn vun lá đốt, ra ngồi thủ thỉ cùng ông những chuyện vui buồn. n www.tienphong.vn SÁNG TÁC 14 29-30/11/2025 Tản văn của NGUYỄN NGỌC ĐÀO UYÊN nhà tổ MINH HỌA: HUỲNH TY
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==